Hai đêm concert Big Bang tại sân vận động quốc gia Mỹ Đình ngày 24-25/10 tiếp tục cho thấy sức hút của các chương trình âm nhạc quốc tế tại Việt Nam. Hàng chục nghìn người hâm mộ đổ về Hà Nội, mang theo những chiếc lightstick vàng đặc trưng, hòa giọng cùng thần tượng trong những ca khúc gắn bó với nhiều thế hệ khán giả.
Không chỉ thu hút sự chú ý trong nước, sự kiện còn được truyền thông Hàn Quốc nhìn nhận như một dấu hiệu về sự thay đổi vị thế của thị trường biểu diễn Việt Nam.
Điểm đến hấp dẫn
Tờ Financial News của Hàn Quốc có bài viết về hai đêm concert Big Bang tại Mỹ Đình, nhấn mạnh Việt Nam đang chuyển mình từ thị trường từng bị đánh giá khó khai thác thành điểm đến có sức mua đáng kể đối với ngành công nghiệp Kpop.
Ông Yoon Hwi - đại diện đơn vị đồng tổ chức concert Big Bang - nhận định tăng trưởng kinh tế đã góp phần cải thiện đáng kể khả năng mua vé của khán giả Việt Nam. Cùng với sự quan tâm ngày càng lớn đối với tác động lan tỏa của công nghiệp văn hóa và du lịch, thị trường biểu diễn Việt Nam còn nhiều dư địa phát triển.
Những đánh giá từ truyền thông và doanh nghiệp Hàn Quốc cho thấy một chuyển biến đáng chú ý. Việt Nam không còn chỉ được nhìn nhận là nơi có cộng đồng người hâm mộ Kpop đông đảo, mà đang dần trở thành thị trường có khả năng tạo doanh thu đáng kể cho các tour diễn quốc tế.
Tuy nhiên, sức mua vé và hiệu ứng truyền thông từ một vài siêu concert chưa đủ để bảo đảm những sự kiện tương tự sẽ diễn ra thường xuyên.
Trao đổi với phóng viên Tiền Phong từ góc độ này, PGS.TS Đỗ Chí Nghĩa - Đại biểu Quốc hội, Ủy viên Ủy ban Văn hóa và Giáo dục - nhận định Việt Nam không thiếu khán giả, cũng không thiếu sức hấp dẫn văn hóa. Vấn đề là đã có đủ năng lực hạ tầng, tổ chức và cơ chế thị trường để biến tiềm năng thành một ngành công nghiệp biểu diễn chuyên nghiệp, bền vững hay chưa.
Theo ông, có ba điểm nghẽn lớn cần giải quyết, gồm hạ tầng, năng lực tổ chức và môi trường kinh doanh.
Một siêu concert không đơn giản chỉ cần sân vận động có sức chứa hàng chục nghìn người. Các tour diễn quốc tế còn đòi hỏi hệ thống âm thanh, ánh sáng, kết cấu sân khấu, nguồn điện, thiết bị treo, khu vực hậu trường, đường vận chuyển và các điều kiện kỹ thuật đồng bộ.
Cùng với đó là hạ tầng giao thông, lưu trú, dịch vụ đô thị đủ khả năng đáp ứng lượng lớn khán giả tập trung trong thời gian ngắn.
Điểm nghẽn còn lại là tính ổn định và khả năng dự đoán của môi trường kinh doanh. Các nhà tổ chức tour quốc tế thường xây dựng kế hoạch từ nhiều tháng, thậm chí nhiều năm trước khi sự kiện diễn ra. Họ cần sự rõ ràng về địa điểm, thủ tục, thuế, bản quyền, thị thực, tài trợ và quảng cáo.
PGS.TS Đỗ Chí Nghĩa cho rằng Singapore và Thái Lan có lợi thế không chỉ nhờ địa điểm biểu diễn mà còn bởi hệ sinh thái dịch vụ, đối tác thương mại và kinh nghiệm tổ chức sự kiện quốc tế.
"Điều quan trọng là phải khiến các nhà tổ chức quốc tế coi Việt Nam là một điểm đến thường xuyên, chứ không chỉ là thị trường có thể khai thác trong những dịp đặc biệt", ông Nghĩa nhấn mạnh.
Làm chủ chuỗi giá trị
Nếu chỉ nhìn concert như một chương trình bán vé, Việt Nam mới khai thác được một phần giá trị kinh tế.
Một siêu concert có thể tạo nguồn thu từ tài trợ, quảng cáo, bản quyền, nội dung số, sản phẩm lưu niệm và các dịch vụ liên quan. Tuy nhiên, điều quan trọng là doanh nghiệp Việt Nam tham gia được bao nhiêu vào những hoạt động tạo ra giá trị ấy.
PGS.TS Đỗ Chí Nghĩa cho rằng cần hoàn thiện cơ chế khai thác quyền và phân chia lợi ích. Các vấn đề về bản quyền âm nhạc, quyền ghi hình, phát sóng, phát trực tuyến, sử dụng bản ghi và khai thác nội dung trên nền tảng số phải được xác định minh bạch trong hợp đồng.
Đối với tài trợ, quảng cáo và sản phẩm lưu niệm, ông Nghĩa cho rằng cần tạo môi trường thuận lợi để doanh nghiệp đầu tư, đồng thời mở rộng cơ hội cho các đơn vị trong nước tham gia thiết kế, sản xuất, phân phối và thương mại điện tử.
Vấn đề xa hơn nằm ở khả năng sở hữu giá trị của ngành biểu diễn. "Nếu chúng ta chỉ cung cấp địa điểm, nhân lực hỗ trợ, vận chuyển và các dịch vụ phụ trợ, phần giá trị lớn nhất có thể vẫn nằm trong tay những đơn vị nắm giữ nghệ sĩ, thương hiệu, bản quyền và mạng lưới phân phối quốc tế", ông Nghĩa phân tích.
Việt Nam cần hình thành những doanh nghiệp có khả năng sản xuất chương trình, quản lý nghệ sĩ, tổ chức tour diễn, phát triển nội dung và phân phối sản phẩm. Đây là những khâu giúp doanh nghiệp nội địa từng bước làm chủ chuỗi giá trị, thay vì chỉ hưởng lợi từ các dịch vụ đi kèm khi nghệ sĩ nước ngoài đến biểu diễn.
Một yêu cầu khác là xây dựng cơ chế thống kê tác động kinh tế của các sự kiện lớn. Việc đánh giá cần tính đến doanh thu, chi tiêu du lịch, dịch vụ phát sinh, việc làm và giá trị tạo ra cho doanh nghiệp trong nước.
Điều này cũng giúp phân biệt rõ doanh thu trực tiếp của concert với tác động kinh tế lan tỏa, tránh đồng nhất toàn bộ chi tiêu du lịch trong dịp sự kiện với khoản thu do chương trình biểu diễn tạo ra.
Theo Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, được phê duyệt tại Quyết định 2486/QĐ-TTg ngày 14/11/2025, ngành nghệ thuật biểu diễn đặt mục tiêu tăng trưởng bình quân 7% mỗi năm, doanh thu đạt khoảng 10.834 tỷ đồng vào năm 2030.
PGS.TS Đỗ Chí Nghĩa cho rằng để đạt mục tiêu này, Việt Nam cần tập trung vào bốn nhóm chính sách: phát triển hạ tầng và thị trường, xây dựng doanh nghiệp biểu diễn có năng lực cạnh tranh khu vực, phát triển thương hiệu nghệ thuật Việt Nam, đồng thời hoàn thiện cơ chế phối hợp và đo lường hiệu quả kinh tế.
Trong đó, đầu tư hạ tầng phải gắn với nhu cầu thị trường và phương án khai thác thường xuyên, tránh xây dựng những công trình quy mô lớn nhưng hiệu quả sử dụng thấp.
Việc thu hút các tour diễn quốc tế phải song hành với phát triển những sản phẩm biểu diễn mang thương hiệu Việt Nam.
"Không thể chỉ kỳ vọng vào việc đưa nghệ sĩ quốc tế đến Việt Nam. Phải đồng thời tạo ra những chương trình, lễ hội âm nhạc và thương hiệu concert của nghệ sĩ Việt đủ sức thu hút khán giả trong nước, kiều bào và công chúng quốc tế". PGS.TS Đỗ Chí Nghĩa.
Để làm được điều đó, ngành biểu diễn cần đầu tư cho sáng tạo, sản xuất âm nhạc, công nghệ sân khấu, quản trị thương hiệu và chiến lược phát triển khán giả. Những giá trị văn hóa Việt Nam phải được chuyển hóa thành sản phẩm nghệ thuật hấp dẫn, có chất lượng và khả năng thương mại.
Chuyên gia cho rằng đích đến không chỉ là đưa thế giới đến xem biểu diễn tại Việt Nam, mà còn là đưa nghệ thuật Việt Nam bước ra thế giới, tạo ra doanh thu, việc làm, bản quyền và thương hiệu từ chính năng lực sáng tạo của người Việt.