Những bước chân không mỏi
Buổi sớm ở Vườn Quốc gia Chư Mom Ray, phía Tây tỉnh Quảng Ngãi, rừng còn phủ một lớp hơi ẩm mỏng. Dưới những tán cây cổ thụ, từng giọt nước li ti đọng trên lớp địa y xù xì, dây leo quấn chằng chịt quanh những thân cây già. Giữa khoảng rừng tĩnh lặng, chị Hoàng Thị Hà (37 tuổi, nhân viên Đội Quản lý bảo vệ rừng Sa Thầy), bất chợt dừng bước, ngước nhìn lên một thân cây lớn rồi khẽ ra hiệu cho đồng đội dừng lại.
Giữa tầng lá rậm rạp, một cụm lan nhỏ bám chặt vào lớp vỏ cây già. Chỉ còn vài giả hành (phần gốc) gầy guộc sau nhiều năm hứng nắng, chịu mưa, nhưng từ đó vẫn nhú lên một chồi non xanh mướt. Hiểu ý, anh A Kinh (29 tuổi) cẩn thận bám theo thân cây, từng bước tiếp cận cụm lan nằm cheo leo cách mặt đất hàng chục mét.
Giữa đại ngàn mênh mông, đó chỉ là một mảng xanh nhỏ bé. Nhưng với những người làm công tác di thực và bảo tồn, mỗi cá thể lan là một mầm sống cần được gìn giữ, chăm sóc và nhân giống trước nguy cơ suy giảm ngoài tự nhiên.
Nhưng để tìm được một cụm lan như thế là cả một hành trình. Có chuyến chỉ gói gọn trong ngày, nhưng cũng có chuyến kéo dài hai, ba ngày. Họ men theo những sườn núi dựng đứng, lội qua suối, len lỏi dưới tán rừng để lần tìm nơi các loài lan sinh trưởng. Phát hiện được lan mới chỉ là bước đầu, bởi phần lớn các cụm lan bám trên những cây cổ thụ cao vút. Muốn tiếp cận, các thành viên phải buộc dây bảo hộ, bám chặt thân cây, rồi cẩn trọng leo tới vị trí.
Anh A Kinh nhớ, có chuyến, khi chỉ còn cách cụm lan vài mét thì mưa rừng bất ngờ trút xuống. Thân cây trơn trượt, anh buộc phải trở về vị trí ban đầu, chờ mưa ngớt mới tiếp tục. Nhưng không phải cuộc chờ đợi nào cũng có kết quả. Có lần, cả nhóm trở lại đúng vị trí đã đánh dấu nhưng cụm lan không còn, trên thân cây chỉ còn những vết dao. Khi ấy, anh A Kinh hiểu rằng, mình đã đến muộn.
Những năm gần đây, lan rừng được nhiều người săn tìm bởi giá trị kinh tế. Không ít người bất chấp địa hình hiểm trở để len sâu vào rừng khai thác. Từ những cây vừa nhú mầm đến các cụm đã bám rễ nhiều năm đều có thể bị tách khỏi nơi sinh trưởng. Với những người làm bảo tồn, mỗi cá thể bị lấy khỏi rừng không chỉ là mất đi một cây lan, mà còn làm tăng nguy cơ suy giảm nguồn gen của các loài đang tồn tại trong hệ sinh thái rừng.
Trước thực tế đó, năm 2020, Trung tâm Bảo tồn đa dạng sinh học và Du lịch sinh thái (thuộc Vườn Quốc gia Chư Mom Ray) đã xây dựng nhà bảo tồn lan rừng, từng bước triển khai việc tìm kiếm, di thực và bảo tồn các loài lan. Trung tâm phối hợp với các đội quản lý bảo vệ rừng - lực lượng nắm rõ địa hình và nơi phân bố của nhiều loài lan - để phát hiện, tiếp cận và đưa các cá thể cần bảo tồn về chăm sóc.
Bảy năm gắn bó với Vườn Quốc gia Chư Mom Ray, chị Hoàng Thị Hà tích lũy được nhiều kinh nghiệm trong việc di thực. “Phần lớn lan sinh trưởng ở độ cao trên 1.000m nên rất nhạy cảm với nhiệt độ, độ ẩm và ánh sáng. Vì vậy, cây không thể được đưa thẳng từ nơi sinh trưởng về nhà bảo tồn trong một lần mà phải trải qua quá trình thích nghi từng bước”, chị Hà nói.
Từ vị trí ban đầu, cây được chuyển xuống một điểm thấp hơn. Khi đã quen với điều kiện mới, chúng mới tiếp tục được đưa xuống điểm tiếp theo, trước khi về nhà bảo tồn. Mỗi lần thay đổi độ cao, nhiệt độ, hay độ ẩm đều có thể ảnh hưởng đến khả năng sống của cây. Bởi vậy, quá trình di thực đòi hỏi sự theo dõi và kiên nhẫn. Những cá thể được đưa về chỉ tạm rời khỏi rừng để phục hồi, nhân giống, rồi chờ ngày quay trở lại nơi chúng vốn thuộc về.
Nâng niu mầm sống, chờ ngày trở lại rừng
Bảy giờ sáng, khi những tia nắng đầu tiên vừa xuyên qua lớp lưới che, chị Y Búp, 30 tuổi, đã có mặt tại nhà bảo tồn lan rừng. Giữa hai dãy nhà rộng 400m², người phụ nữ Gia Rai chậm rãi đi từ chậu lan này sang chậu lan khác. Mỗi chậu, chị đều quan sát bộ rễ, lật từng chiếc lá để kiểm tra sâu bệnh, trước khi phun một lớp nước mỏng giữ ẩm.
Hơn 1.700 cá thể lan đang được lưu giữ tại đây, nhưng vì nhân lực mỏng, nhiều năm qua, chị Y Búp là người duy nhất đảm nhận việc chăm sóc thường xuyên. Có lẽ vì thế, chị gần như nhớ rõ đặc điểm của từng cây. “Nó như con của mình vậy. Ngày nào không nhìn là thấy thiếu. Chỉ cần khác đi một chút là biết ngay”, chị Y Búp nói.
Bốn năm trước, ít ai nghĩ, một người cử nhân Luật như chị lại chọn gắn bó với công việc cần sự kiên nhẫn đến vậy. Nhưng rồi, từng cụm lan được đưa về từ rừng sâu đã giữ chị ở lại. Có cây khi về nhà bảo tồn, bộ rễ đã xơ xác, có cây mất gần hết giả hành (thân giả), nhiều cây suy kiệt tưởng như không thể phục hồi. Vì vậy, những ngày đầu, sau khi tiếp nhận luôn là giai đoạn vất vả nhất.
Người chăm sóc phải theo dõi từng thay đổi nhỏ để có cách chăm sóc phù hợp. Có loài cần nhiều ánh sáng, có loài phải đặt sâu trong bóng mát. Có cây chỉ cần tưới phun sương, có cây phải để khô nhiều ngày. Khi thời tiết thay đổi, chế độ chăm sóc cũng phải điều chỉnh theo.
“Mùa mưa thì sợ nhất nấm bệnh. Chỉ cần một vết thối nhỏ không phát hiện kịp là có thể lan sang cả cây. Đến mùa khô lại phải chăm theo kiểu khác. Không phải loài nào cũng tưới nhiều nước, có loài phải để khô một thời gian mới chịu nảy chồi, ra hoa”, chị Y Búp chia sẻ.
Gắn bó với nhà bảo tồn lan rừng, chị Y Búp nhớ nhất không phải những mùa hoa nở, mà là khoảnh khắc cây lan đại bạch hạc bất ngờ nảy chồi sau gần hai năm im lìm. “Cây lan này lúc đưa từ rừng về còi cọc lắm. Tôi không nghĩ có ngày nó lại phát triển như vậy. Đó là tín hiệu cho thấy nó sẽ sinh trưởng nếu được chăm sóc đúng cách”, chị nói.
Ở nhà bảo tồn, nhiều người vẫn gọi vui chị Y Búp là mẹ của những đứa “con mọn”. Cách gọi có phần dí dỏm, nhưng phía sau là sự ghi nhận dành cho người phụ nữ đã kiên nhẫn chăm sóc từng bộ rễ, chiếc lá, chồi non.
Theo ông Đào Anh Chiến - Giám đốc Trung tâm Bảo tồn đa dạng sinh học và Du lịch sinh thái, mỗi cụm lan được đưa từ rừng về đều phải trải qua giai đoạn “hồi sức” để thích nghi với môi trường mới. Sau đó, cây được ghép lên gỗ lũa hoặc trồng vào chậu để tiếp tục chăm sóc.
Có loài chỉ mất vài tháng để bén rễ, nhưng cũng có loài cần nhiều năm mới ổn định. Lan giả hạc phải mất hơn 3 năm mới thích nghi với điều kiện nuôi dưỡng. Với đại bạch hạc, loài sinh trưởng ở độ cao trên 1.000m, người chăm sóc phải tạo môi trường gần giống tự nhiên, từ nhiệt độ, độ ẩm đến giá thể thì cây mới phát triển.
Khi cây hình thành chồi mới, Trung tâm tiến hành tách chồi để nhân giống. Những chồi non tiếp tục được chăm sóc trong nhiều năm, đến khi đủ sức sinh trưởng mới được đưa trở lại tự nhiên. Với quy trình này, tỷ lệ thành công đạt khoảng 90%.
Đưa lan trở lại rừng cũng không đơn giản là chọn một thân cây rồi ghép vào. Trước đó, cán bộ kỹ thuật phải khảo sát vị trí, lựa chọn cây chủ cùng những điều kiện về độ cao, độ ẩm phù hợp. Sau khi ghép lên cây chủ, các cá thể lan tiếp tục được theo dõi để đánh giá khả năng thích nghi và sinh trưởng.
Đây cũng là công đoạn cho thấy rõ nhất mục tiêu của việc bảo tồn. Lan được đưa ra khỏi rừng không phải để tồn tại mãi trong những chậu cây dưới lớp lưới che, mà để được phục hồi, nhân giống, rồi trở lại sinh cảnh tự nhiên. Khi những cá thể ấy có thể tiếp tục bén rễ, nảy chồi ngoài rừng, quá trình bảo tồn mới thực sự đi đến đích.
Hiện Trung tâm đang lưu giữ 131 loài phong lan, với 1.729 chậu, trong đó có nhiều loài như giả hạc, nghinh xuân, lan kim tuyến, thủy tiên vàng... Từ nguồn giống được nhân nuôi, hơn 20 loài lan đã được đưa trở lại các khu vực rừng thuộc Vườn Quốc gia Chư Mom Ray. Những vị trí này được theo dõi, quản lý chặt chẽ nhằm hạn chế nguy cơ bị khai thác. Đến năm 2030, Trung tâm đặt mục tiêu bổ sung thêm 10 loài lan mới, nâng số lượng lưu giữ lên 3.000 chậu, đồng thời, từng bước số hóa công tác theo dõi, quản lý và chăm sóc.
Giữa những cánh rừng Chư Mom Ray, phía sau mỗi mầm lan trở lại rừng là một hành trình dài, từ những bước chân lần tìm dưới tán rừng, những lần tiếp cận các thân cây cao hàng chục mét, đến những tháng ngày chăm sóc, nhân giống và lựa chọn nơi phù hợp để đưa chúng trở về.
Đó cũng là hành trình gìn giữ nguồn gen và bảo vệ sự đa dạng sinh học của đại ngàn Chư Mom Ray. Với những người làm công tác bảo tồn, hành trình ấy chỉ thực sự trọn vẹn khi những mầm lan tiếp tục bén rễ, nảy chồi.