Từ sản xuất truyền thống đến ứng dụng công nghệ cao
Với diện tích tự nhiên hơn 1,48 triệu héc ta, tỉnh Quảng Ngãi có lợi thế phát triển nông, lâm nghiệp và thủy sản, kết nối vùng nguyên liệu phía Tây với các cơ sở chế biến, hệ thống cảng biển phục vụ xuất khẩu ở phía Đông.
Tuy nhiên, để khai thác hiệu quả những lợi thế này, Quảng Ngãi đang hướng đến chuyển đổi phương thức sản xuất, tăng cường ứng dụng khoa học, công nghệ và phát triển các chuỗi giá trị nông nghiệp.
Đến nay, toàn tỉnh có hơn 30.000ha sản xuất ứng dụng công nghệ cao. Trong đó, hai vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao duy trì hiệu quả là vùng rau quả Măng Đen với 242ha và vùng cà phê Đăk Hà với 1.939ha.
Cùng với ứng dụng công nghệ trong sản xuất, việc quản lý vùng trồng, truy xuất nguồn gốc và nâng cao chất lượng sản phẩm cũng được quan tâm.
Quảng Ngãi hiện có 71 mã số vùng trồng còn hiệu lực, với tổng diện tích 818,5ha; trong đó 46 mã số vùng trồng phục vụ xuất khẩu. Toàn tỉnh có 521 sản phẩm OCOP còn thời hạn, gồm 2 sản phẩm đạt 5 sao, 51 sản phẩm đạt 4 sao và 468 sản phẩm đạt 3 sao.
Ở khu vực phía Tây, phát triển dược liệu dưới tán rừng đang góp phần hình thành các vùng sản xuất gắn với điều kiện sinh thái đặc thù, đồng thời tạo sinh kế cho người dân.
Quảng Ngãi có gần 1,1 triệu héc ta rừng và đất lâm nghiệp, với hơn 853 loài cây thuốc, nổi bật là sâm Ngọc Linh, đẳng sâm, đương quy, lan kim tuyến và ngũ vị tử.
Ông Phạm Xuân Quang - Chủ tịch UBND xã Măng Ri cho biết, dược liệu không chỉ là nguồn nguyên liệu phục vụ ngành y dược mà còn là nguồn sinh kế lâu dài cho người dân. “Trong 5 năm qua, xã Măng Ri có khoảng 2.000 hộ dân thoát nghèo bền vững, trong đó đa số là các hộ trồng sâm Ngọc Linh và đẳng sâm (sâm dây)”, ông Quang nói.
Hiện khu vực phía Tây tỉnh có 1.165 hộ gia đình, 30 nhóm hộ và tổ liên kết liên kết với 5 doanh nghiệp sản xuất sâm Ngọc Linh, với diện tích gần 3.300ha và gần 4.700ha sâm dây.
Việc hình thành vùng nguyên liệu, tổ chức liên kết sản xuất và phát triển các sản phẩm có giá trị cao là những bước chuyển trong quá trình nâng hiệu quả kinh tế nông nghiệp.
Trong lĩnh vực lâm nghiệp, gần 542.800ha rừng đã được triển khai xây dựng phương án quản lý rừng bền vững, gần 35.000ha được cấp chứng chỉ FSC. Tỉnh cũng định hướng phát triển dịch vụ carbon rừng, gắn quản lý tài nguyên với giảm phát thải khí nhà kính.
Lấy công nghệ và chuyển đổi số làm động lực tăng trưởng
Dù đạt nhiều kết quả, ngành nông nghiệp Quảng Ngãi vẫn đối mặt những khó khăn khi chuyển từ tư duy sản xuất nông nghiệp thuần túy sang phát triển kinh tế nông nghiệp đa giá trị.
Giai đoạn 2020 - 2025, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 4,3%/năm. Đến năm 2025, tổng giá trị sản xuất đạt hơn 31.200 tỉ đồng, nhưng những hạn chế về hạ tầng, nguồn vốn và công nghệ vẫn ảnh hưởng đến khả năng nâng cao năng suất, hiệu quả chế biến và sức cạnh tranh của sản phẩm.
Ông Hồ Trọng Phương - Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Quảng Ngãi cho biết, tỉnh tập trung nhận diện những điểm nghẽn, lựa chọn đúng vấn đề cần giải quyết, công nghệ cần ưu tiên và các giải pháp có khả năng tạo chuyển biến thực chất.
Trọng tâm là khắc phục hạn chế trong nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng công nghệ; tháo gỡ vướng mắc về cơ chế, chính sách, đất đai, quy hoạch nhằm nâng cao chất lượng giống, năng suất và hiệu quả chế biến.
Một trong những định hướng quan trọng là lấy doanh nghiệp làm trung tâm đổi mới công nghệ. Doanh nghiệp tham gia xác định nhu cầu, đề xuất nhiệm vụ nghiên cứu, tiếp nhận kết quả và tổ chức ứng dụng vào thực tế sản xuất.
Đặc biệt, những doanh nghiệp có khả năng dẫn dắt, huy động nguồn lực và phát triển thị trường được ưu tiên tham gia, qua đó tăng cường liên kết giữa cơ quan quản lý, nhà khoa học và người sản xuất.
Cách tiếp cận này hướng đến đưa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn, thúc đẩy thương mại hóa công nghệ và nâng cao giá trị các chuỗi sản xuất nông nghiệp, thay vì chỉ tập trung gia tăng sản lượng.
Song song với đổi mới công nghệ, tỉnh định hướng quản trị tài nguyên dựa trên dữ liệu số, quản lý môi trường theo phân vùng không gian, gắn sản xuất với bảo tồn đa dạng sinh học, ứng phó biến đổi khí hậu và phát triển dịch vụ carbon rừng.
Giai đoạn 2026 - 2030, Quảng Ngãi đặt mục tiêu tăng trưởng GRDP khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản bình quân 5 - 6%/năm. Đến năm 2030, giá trị sản xuất toàn khu vực phấn đấu đạt gần 41.500 tỉ đồng, tỉ lệ che phủ rừng đạt 60%.
Tầm nhìn đến năm 2045, tỉnh hướng đến trở thành trung tâm sản xuất dược liệu và chế biến gỗ hàng đầu cả nước, phát triển nền nông nghiệp hiện đại, đa chức năng và kinh tế biển mạnh trên nền tảng kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và quản trị tài nguyên bằng dữ liệu số.
Từ những vùng sản xuất ứng dụng công nghệ cao đến yêu cầu đổi mới phương thức quản lý, Quảng Ngãi đang xác định khoa học, công nghệ và chuyển đổi số là động lực nâng chất lượng tăng trưởng. Mục tiêu không chỉ là tăng sản lượng, mà còn nâng giá trị sản phẩm, hiệu quả sản xuất và khả năng thích ứng của ngành nông nghiệp trước những yêu cầu phát triển mới.