Xung quanh câu chuyện này, PV Tiền Phong đã có cuộc trao đổi với TS Phạm Thị Huyền (Học viện Quản lý Giáo dục) để phân tích toàn diện từ động cơ của các bên, áp lực thi cử, trách nhiệm quản lí cho đến chính sách tiền lương của nhà giáo.
Giải mã
Thưa bà, các văn bản quy định hiện nay đều cấm giáo viên dạy thêm chính học sinh của mình trên lớp. Tuy nhiên, tình trạng giáo viên dùng “quyền lực mềm” vẫn âm thầm diễn ra. Vì sao vẫn chưa thể ngăn chặn sự biến tướng này?
Vấn đề cấm dạy thêm - học thêm đã được quy định tại các Thông tư 29, Thông tư 19 và Văn bản hợp nhất 04 của Bộ GD&ĐT. Để trả lời câu hỏi này, chúng ta cần tìm hiểu phần gốc của vấn đề và phân tích động cơ của từng đối tượng tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp
Về phía giáo viên, động cơ tốt là mong muốn hỗ trợ những học sinh giỏi hoặc học sinh yếu kém. Động cơ không tốt là muốn tăng thêm thu nhập từ việc dạy thêm.
Về phía học sinh, động cơ tốt là học thêm để bản thân tốt hơn, giỏi hơn. Động cơ không tốt là sợ bị cô trù dập hoặc chỉ để làm hài lòng cha mẹ.
Về phía phụ huynh, động cơ tốt là mong muốn con tiến bộ, học tập tốt hơn. Động cơ không tốt là cho con đi học để làm hài lòng giáo viên, e ngại giáo viên không quan tâm giúp đỡ con để có kết quả tốt hay học bạ đẹp, cùng một vài yếu tố khác như áp lực thi chuyển cấp.
Bản chất vấn đề chúng ta đang trao đổi chính là chiều hướng của những động cơ không tốt. Khi giáo viên dùng quyền lực mềm qua điểm số, sự yêu ghét (thể hiện qua các câu nói như: kiến thức trên lớp chỉ đủ cơ bản, muốn làm bài tốt phải học thêm; dạng bài nâng cao đã hướng dẫn ở lớp học thêm; các em tự cân nhắc chứ cô không bắt buộc...) thì đã thấy rõ nguồn gốc sâu xa.
Muốn giải quyết triệt để phải xử lí tận gốc và tác động tới tất cả các đối tượng. Khi chúng ta chỉ tập trung vào một đối tượng là giáo viên và chỉ giải quyết phần ngọn bằng cách cấm theo nguyên lí “quản không được thì cấm” thì rất khó để chấm dứt.
Chương trình mới hướng đến giảm tải và tăng năng lực tự học, nhưng phụ huynh phản ánh bài tập và kiểm tra đánh giá vẫn quá nặng, không đi học thêm thì không theo kịp. Điểm nghẽn ở đây là gì, thưa bà?
Tôi không kết luận điểm nghẽn là do chương trình chưa thực sự giảm tải hay do phương pháp đánh giá của nhà trường vẫn theo lối mòn truyền thống. Cần nhìn nhận vấn đề một cách toàn diện.
Điểm nghẽn ở đây chính là chưa tìm thấy sự thống nhất, đồng bộ của 3 thành tố tham gia vào quá trình giáo dục: Chương trình giáo dục, đội ngũ nhà giáo, và các điều kiện triển khai (đào tạo, bồi dưỡng, cơ sở hạ tầng…). Chúng ta hướng đến đổi mới giáo dục theo tiếp cận năng lực và phẩm chất người học. Quan điểm tiếp cận này rất đúng hướng và xuyên suốt các cấp học. Song nếu chưa thay đổi được cách làm của đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lí để thực hiện chương trình đúng tinh thần đó, hoặc thiếu cơ sở hạ tầng đáp ứng, chúng ta sẽ thấy độ vênh. Lúc đó lại nhìn thấy rõ những hạn chế rồi đi tìm nguyên nhân, thậm chí đổ lỗi. Việc phụ huynh phản ánh bài tập nặng cũng chỉ phản ánh được phần nào nguyên nhân của việc học thêm.
Hệ lụy
Chi phí học thêm hiện chiếm 30-50% thu nhập của nhiều gia đình đô thị, tạo ra sự bất bình đẳng lớn. Dưới góc nhìn xã hội học giáo dục, bà nhìn nhận thế nào về hệ lụy đối với học sinh?
Vấn đề đáng lo ngại nhất không đơn thuần là số giờ học thêm hay số tiền chi trả. Sâu xa hơn, học thêm có thể dần trở thành một cơ chế phân tầng cơ hội giáo dục, đồng thời làm thay đổi cách học sinh hình thành động lực học tập, năng lực tự chủ và quan hệ với việc học.
Về bản chất, không phải mọi hoạt động học thêm đều gây hại. Lớp học phù hợp có thể giúp lấp khoảng trống kiến thức, củng cố sự tự tin hoặc phát triển năng khiếu. Rủi ro chỉ xuất hiện khi học thêm kéo dài, mang tính bắt buộc và trên thực tế, bị chi phối bởi nỗi sợ tụt hậu và thay thế những trải nghiệm phát triển thiết yếu khác.
Những hệ lụy cụ thể, gồm: Tái sản xuất bất bình đẳng xã hội thông qua giáo dục: Gia đình có điều kiện kinh tế tốt sẽ cho con học thêm nhiều.
Tâm lí học sinh bị chi phối bởi thành tích nhờ học thêm: Học sinh có kết quả tốt sẽ tự tin hơn, học sinh kết quả kém sẽ rụt rè, e ngại. Suy giảm khả năng tự học và tính tự chủ, học sinh có xu hướng ỷ lại vào các lớp học thêm.
Ảnh hưởng sức khỏe tinh thần và sự phát triển toàn diện: Thời gian học kéo dài khiến trẻ mất đi thời gian dành cho ngủ, vận động thể chất, vui chơi và tương tác xã hội.
Mỗi khi có lớp học thêm “chui”, trách nhiệm thường dồn cho giáo viên. Liệu có phải hiệu trưởng không biết giáo viên làm gì ngoài giờ lên lớp hay còn lí do nào khác?
Không nên đặt vấn đề theo hướng chỉ có hai khả năng: hiệu trưởng không biết, hoặc giáo viên cố tình vi phạm. Trong thực tế, cần xem xét đồng thời trách nhiệm cá nhân của giáo viên, trách nhiệm quản lí của hiệu trưởng và những hạn chế của cơ chế giám sát. Câu hỏi đáng đặt ra là: Hiệu trưởng có trách nhiệm phải biết đến đâu, có công cụ nào để biết, và phải chịu trách nhiệm thế nào khi vi phạm diễn ra kéo dài trong phạm vi quản lí của mình?
“Khi dạy thêm trở thành nguồn thu hấp dẫn, động cơ kinh tế vẫn tiếp tục tồn tại. Đạo đức nghề nghiệp và cơ chế thực thi pháp luật là hai yếu tố độc lập với mức lương (dù lương cao nhưng vẫn có thể dạy thêm để tăng thêm thu nhập). Do đó, nếu xếp lương giáo viên vào thang bảng lương cao nhất, chúng ta không thể kì vọng chỉ riêng chính sách này sẽ chấm dứt được tình trạng dạy thêm, học thêm trái quy định”. TS Phạm Thị Huyền, Học viện Quản lý Giáo dục
Căn cứ quy định hiện hành, giáo viên khi tham gia dạy thêm ngoài nhà trường phải báo cáo với hiệu trưởng về môn học, địa điểm, hình thức, mối quan hệ với chủ thể đăng kí kinh doanh cơ sở dạy thêm, thời gian tham gia và cập nhật khi có thay đổi. Hiệu trưởng có trách nhiệm quản lí, theo dõi, nhắc nhở và xử lí hoặc kiến nghị xử lí vi phạm theo thẩm quyền. Về mặt pháp lí, không thể xem hoạt động này hoàn toàn nằm ngoài phạm vi quản lí nghề nghiệp. Tuy nhiên, cũng không thể mặc nhiên kết luận hiệu trưởng có lỗi chỉ vì một giáo viên vi phạm, mà cần xem xét người đứng đầu đã thực hiện nghĩa vụ quản lí, tiếp nhận thông tin, kiểm tra và xử lí đến đâu.
Hiện nay, thu nhập của nhà giáo đã cải thiện, có phụ cấp ưu đãi nghề. Vì sao dạy thêm trái quy định vẫn diễn ra? Liệu khi xếp lương giáo viên vào thang bảng lương cao nhất thì tình trạng này có chấm dứt?
Thu nhập có thể giải thích một phần động cơ kinh tế, nhưng không thể giải thích toàn bộ hiện tượng, càng không thể thay thế cơ chế bảo đảm tuân thủ pháp luật và đạo đức nghề nghiệp. Cần phân biệt rõ, giáo viên dạy thêm để tăng thu nhập khác với giáo viên tổ chức dạy thêm trái quy định. Dạy thêm hợp pháp không đồng nghĩa với vi phạm. Ngược lại, thu nhập cao hơn cũng không tự động loại bỏ hành vi vi phạm.
Về chính sách, mức phụ cấp ưu đãi nghề giáo từ 20% đến 80%. Dù vậy, mức hưởng thực tế phụ thuộc vào chức danh, vị trí việc làm, địa bàn và điều kiện cụ thể, nên không thể kết luận mọi giáo viên đều có thu nhập cao hơn rất nhiều ngành nghề khác.
Dưới góc nhìn kinh tế học, xã hội học giáo dục và quản lí công, các nguyên nhân dẫn đến tình trạng này bao gồm: Tăng thu nhập không phải là động cơ duy nhất dẫn đến dạy thêm. Áp lực cạnh tranh giáo dục duy trì nhu cầu dạy thêm ngay cả khi lương tăng. Điều này thể hiện qua cạnh tranh cơ hội học tập (cơ hội có tính chọn lọc cao thúc đẩy phụ huynh đầu tư để nâng vị thế); tâm lí sợ tụt hậu (cho con học vì lo học sinh khác được chuẩn bị tốt hơn); kì vọng thành tích (điểm số được coi là chỉ báo cho tương lai và thành công).
Khi dạy thêm trở thành nguồn thu hấp dẫn, động cơ kinh tế vẫn tiếp tục tồn tại. Đạo đức nghề nghiệp và cơ chế thực thi pháp luật là hai yếu tố độc lập với mức lương (dù lương cao nhưng vẫn có thể dạy thêm để tăng thêm thu nhập). Do đó, nếu xếp lương giáo viên vào thang bảng lương cao nhất, chúng ta không thể kì vọng chỉ riêng chính sách này sẽ chấm dứt được tình trạng dạy thêm, học thêm trái quy định.
Xin cảm ơn bà!