Những lá thư gửi về từ chiến trường
Trong căn nhà ở xã Quỳnh Châu, Nghệ An, ông Nguyễn Văn Thiềng (77 tuổi) ngồi lần tìm những vật dụng quen thuộc bằng đôi bàn tay. Đôi mắt đã mù hơn nửa thế kỷ, nhưng mỗi khi nhắc đến những năm tháng tuổi trẻ, giọng ông vẫn rành rọt. “Ngày ấy tôi còn trẻ, nghĩ đơn giản lắm. Đi chiến đấu rồi sẽ có ngày trở về, đất nước hòa bình thì cưới nhau”, ông Thiềng nhớ lại.
Năm 1969, khi mới 18 tuổi, Nguyễn Văn Thiềng gác lại cơ hội vào Trường Đại học Tổng hợp, khoa Văn, lên đường nhập ngũ. Thuộc Tiểu đoàn 31, Quân khu 4, ông chiến đấu tại mặt trận Bình - Trị - Thiên, sau đó được điều vào chiến trường Tây Nam Bộ.
Năm 1971, trong một lần được đưa ra miền Bắc huấn luyện trước khi trở lại chiến trường, ông gặp Hồ Thị Thắng, cô gái cùng quê, kém ông vài tuổi. “Gặp nhau rồi thương nhau lúc nào không hay. Hai bên gia đình cũng biết chuyện. Trước lúc tôi đi, chúng tôi hẹn khi hòa bình sẽ làm đám cưới”, ông kể.
Bà Thắng khi ấy cũng xung phong làm dân công hỏa tuyến ở Quảng Trị. Hai người cùng ở giữa chiến trường nhưng mỗi người một nơi, chỉ có những lá thư là sợi dây kết nối.
Hôm chúng tôi đến thăm, bà Thắng đang chăm cháu ở phường Thái Hòa, Nghệ An. Qua điện thoại, bà vẫn nhớ như in những ngày tháng đôi mươi. Mỗi lần nhận thư người yêu gửi về, bà đều cẩn thận chép lại vào một cuốn sổ vì sợ những dòng chữ từ chiến trường thất lạc. “Thư từ chiến trường lúc đó quý lắm. Tôi sợ thất lạc nên cứ nhận được thư là chép lại. Sau này có chuyện gì thì vẫn còn chữ của anh”, bà Thắng kể.
Cuốn sổ ấy được bà giữ đến nay đã hơn 50 năm. Có lần ông Thiềng viết về chuyện tập bắn súng được 27 điểm và được thủ trưởng đơn vị tặng một cuốn sổ tay. Món quà ấy, ông cũng gửi về cho người con gái ở quê.
Trong một lá thư khác, người lính trẻ viết: “Rồi đây tình cảm chúng ta sẽ gặp phải nhiều khó khăn song chúng ta cần phải vượt qua… Để rồi đây tình chung thủy chúng ta được trong trắng, tình yêu chúng ta được trọn vẹn…”
Bà Thắng vẫn nhớ những dòng chữ ấy. “Đọc thư của anh, tôi biết chiến tranh rất gian khổ nhưng vẫn tin anh sẽ trở về. Tôi chỉ nghĩ đơn giản là chờ anh”, bà nói qua điện thoại.
“Anh thương tật thế này, em đừng lấy anh”
Năm 1972, trong một trận đánh vào căn cứ địch ở Hiệp Hòa, Long An, ông Thiềng bị thương nặng ở đầu, mắt bị tổn thương. Không kịp rút cùng đồng đội, ông rơi vào tay địch. Người lính trẻ bị giam tại xà lim Hố Nai, Biên Hòa. Sau Hiệp định Paris năm 1973, ông được trao trả tù binh.
Ngày trở về, người lính không còn là chàng trai khỏe mạnh. Sức khỏe bị tổn hại 95%, đôi mắt mù hẳn. “Lúc ấy tôi buồn lắm. Mình còn trẻ mà mắt đã không nhìn thấy gì. Tôi nghĩ cuộc đời mình sau này sẽ thế nào, rồi người mình thương có còn chờ mình không”, ông Thiềng nói.
Bà Thắng nghe tin người yêu trở về liền bắt xe đi tìm. Bà qua nhiều bệnh viện nhưng không gặp được ông. Còn ông Thiềng, sau những ngày điều trị, cũng không dám viết thư về quê. “Nhớ nhà, nhớ quê, nhớ cô ấy nhưng tôi không dám viết. Tôi nghĩ mình thương tật như thế này thì lấy nhau chỉ làm khổ cô ấy”, ông kể.
Sau đó, ông nhờ người viết thư về và khuyên bà Thắng hãy đi lấy chồng. “Tôi bảo cô ấy đừng chờ tôi nữa. Tôi nghĩ cô ấy còn trẻ, còn cả tương lai. Tôi mù rồi, sức khỏe lại như vậy, không thể để cô ấy khổ vì mình”, ông nói.
Ông sợ thương tật của mình sẽ khiến bà khổ cả đời. Nhưng suốt những năm chiến tranh, người con gái vẫn chờ và không thay đổi quyết định. Bà tìm đến bên ông. Tháng 8/1975, họ chính thức trở thành vợ chồng.
Đám cưới diễn ra sau ngày đất nước thống nhất. Nhưng cuộc sống gia đình với một người thương tật nặng không hề dễ dàng. Ông tiếp tục điều trị. Bà vừa chăm chồng, vừa lo cuộc sống. Năm người con lần lượt ra đời.
Năm 1991, ông được chuyển về Trung tâm Điều dưỡng thương binh tâm thần kinh Nghệ An. Thương vợ một mình chăm sóc các con, ông xin trở về nhà. “Tôi nghĩ vợ đã hy sinh cho mình quá nhiều. Tôi không thể để cô ấy vừa chăm chồng, vừa một mình nuôi con mãi được”, ông nói.
Từ đó, hai vợ chồng lặng lẽ nương tựa vào nhau trong căn nhà nhỏ. Các người con lần lượt chào đời, mái ấm thêm tiếng cười, nhưng cũng thêm bao nhọc nhằn. Ông Thiềng không còn nhìn thấy ánh sáng, bà Thắng trở thành đôi mắt của chồng, dìu ông đi lại, kể cho ông nghe những điều mình nhìn thấy và chăm sóc ông mỗi khi trái gió trở trời.
Còn ông Thiềng, dù không thể làm được nhiều việc, vẫn tìm cách đồng hành cùng vợ. Ông làm thơ, kể chuyện, nhớ lại những năm tháng tuổi trẻ.
Hơn nửa thế kỷ đã đi qua. Cuốn sổ chép thư ngày nào đã cũ, những trang giấy ố vàng, nét chữ cũng nhạt dần. Nhưng lời hẹn năm 1971 vẫn còn đó. Người con gái năm xưa đã trở thành người vợ, người chăm sóc và đôi mắt của người lính suốt nửa thế kỷ. “Ngày ấy viết thư chỉ mong cô ấy hiểu mình vẫn nhớ, vẫn thương và sẽ trở về”, ông Thiềng tâm sự.
Chiến tranh đã lấy đi ánh sáng trong đôi mắt ông Thiềng, lấy đi những năm tháng tuổi trẻ và để lại những thương tật không thể chữa lành. Nhưng có một điều chiến tranh không lấy được, đó là lời hẹn ước, là tình yêu năm nào.