Ông Nguyễn Tiến Thảo, Vụ trưởng Vụ Giáo dục Đại học (Bộ GD&ĐT) cho biết, dữ liệu tuyển sinh năm 2026 cho thấy hơn 37.300 thí sinh sử dụng chứng chỉ tiếng Anh để được cộng điểm; trong đó trên 35.900 thí sinh sử dụng IELTS. IELTS 6.0 là mức phổ biến nhất, với 8.318 thí sinh, nhưng được các trường quy định thành 26 mức điểm cộng khác nhau.
Ở nhóm ngành thuộc tốp 5% điểm chuẩn cao, có ngưỡng tham chiếu 26,09/30, hơn 30% người nhập học có điểm cộng; tỷ lệ này ở nhóm ngoài tốp 25% là 9,51%.
Trong ba phương thức không có cấu phần ngoại ngữ riêng gồm xét điểm thi tốt nghiệp THPT, xét học bạ và kết hợp hai kết quả, 51,42% thí sinh có điểm cộng có điểm gốc thấp hơn mức trúng tuyển của ngành.
Các con số này không xác định được từng cặp thí sinh bị thay thế, nhưng cho thấy điểm cộng có thể trở thành yếu tố quyết định kết quả tại các ngành cạnh tranh cao, tạo sự bất bình đẳng trong tuyển sinh.
Ông Thảo nói, công bằng trong tuyển sinh không phải là chia đều lợi thế, mà là bảo đảm thí sinh cùng dự tuyển vào một ngành được đánh giá bằng cùng tiêu chí.
IELTS vẫn có giá trị trong tuyển sinh
TS Lê Anh Đức, Trưởng Phòng Quản lý Đào tạo, Đại học Kinh tế Quốc dân cho rằng, Bộ GD&ĐT đã phân tích dữ liệu lớn và kịp thời thay đổi, điều chỉnh chính sách phù hợp với thực tiễn, nhằm đảm bảo các mục tiêu công bằng trong tuyển sinh của toàn hệ thống.
"Sự điều chỉnh trên không phủ nhận vai trò quan trọng của chứng chỉ IELTS. IELTS vẫn là một lợi thế của thí sinh trong xét tuyển ", TS Lê Anh Đức cho hay.
Theo TS Đức, việc điều chỉnh chính sách không làm mất đi quyền tự chủ của các cơ sở đào tạo. Các trường vẫn có thể sử dụng chứng chỉ tiếng Anh trong tuyển sinh theo nhiều hướng.
Thứ nhất, chứng chỉ có thể được quy đổi để thay thế môn tiếng Anh trong kỳ thi tốt nghiệp THPT hoặc kỹ năng tiếng Anh trong các kỳ xét tuyển.
Thứ hai, chứng chỉ có thể được sử dụng như điều kiện đầu vào đối với các chương trình đào tạo có tỷ lệ đáng kể môn học được giảng dạy và học tập bằng tiếng Anh.
Thứ ba, đây có thể là tiêu chí xét tuyển vào các chương trình đào tạo liên kết quốc tế hoàn toàn bằng tiếng Anh theo yêu cầu của chương trình.
Theo ông Đức, chứng chỉ tiếng Anh theo chuẩn quốc tế phản ánh năng lực ngôn ngữ của thí sinh, đồng thời tạo lợi thế trong việc tiếp cận các nguồn học liệu bằng tiếng Anh và thích ứng với môi trường học tập có yếu tố quốc tế.
Tại Đại học Kinh tế Quốc dân, thí sinh có IELTS vẫn có lợi thế lớn. Nhà trường có nhiều chương trình đào tạo bằng tiếng Anh, môi trường học tập quốc tế và cơ chế công nhận chuẩn đầu ra tiếng Anh, kết quả học tập cũng như chuyển đổi tín chỉ đối với các học phần tiếng Anh trong chương trình đào tạo.
Trước đó, theo thống kê kết quả đăng ký xét tuyển đại học năm 2026, Đại học Kinh tế Quốc dân ghi nhận khoảng 23.000 thí sinh sử dụng chứng chỉ IELTS để quy đổi điểm hoặc đăng ký xét tuyển theo phương thức kết hợp, tăng gần 1.000 hồ sơ so với năm 2025.
Không nằm đơn thuần ở con số 26
Về vấn đề 26 mức điểm cộng IELTS 'gây bất công' , nhà nghiên cứu Lê Hoàng Phong, hiện học cao học Khoa học về Giáo dục Giáo viên tại Đại học Oxford (Vương quốc Anh), cho rằng 26 mức điểm cộng chưa đủ để kết luận toàn bộ cơ chế hiện hành là bất công, nhưng đủ để cho thấy một vấn đề đáng chú ý về quản trị tuyển sinh.
Theo ông Phong, cùng một mức IELTS 6.0 đang được các trường trao những giá trị tuyển sinh rất khác nhau, trong khi chưa có một nguyên tắc chung đủ rõ để xác định một năng lực bổ sung được phép tạo ra bao nhiêu lợi thế trong cuộc cạnh tranh vào đại học.
Khi những khác biệt này có khả năng làm thay đổi thứ tự trúng tuyển ở các ngành cạnh tranh cao, vấn đề không còn chỉ nằm ở lựa chọn riêng của từng trường mà trở thành vấn đề cần được Bộ GD&ĐT xem xét ở cấp hệ thống.
“Ở cấp hệ thống, tôi nghĩ đây là điểm Bộ phải nhìn thấy rõ nhất. Quyền tự chủ cho phép các trường xác định những năng lực phù hợp với chương trình của mình, nhưng một hệ thống tuyển sinh quốc gia vẫn cần những giới hạn chung để bảo đảm các tiêu chí bổ sung không phát triển thành hàng loạt cơ chế quy đổi mà người học rất khó hiểu, rất khó so sánh và càng khó dự báo”, ông Phong nhấn mạnh.
Theo nhà nghiên cứu này, vấn đề của 26 mức điểm cộng không nằm đơn thuần ở con số 26, mà ở chỗ chưa rõ các mức này được hình thành dựa trên một căn cứ chung nào hay mỗi trường đang tự xác định giá trị của chứng chỉ theo cách riêng.
Điều này cũng đặt ra câu hỏi về vai trò của Bộ GD&ĐT. Cơ quan quản lý không nhất thiết phải quyết định IELTS 6.0 có cùng một giá trị ở mọi ngành. Một chương trình sử dụng nhiều tiếng Anh hoàn toàn có thể coi ngoại ngữ quan trọng hơn chương trình khác.
Tuy nhiên, theo ông Phong, Bộ có trách nhiệm xác định những nguyên tắc mà các cơ sở đào tạo phải chứng minh trước khi một tiêu chí được phép tạo ra lợi thế tuyển sinh.
“Ở cấp trường đại học, 26 mức đặt trách nhiệm giải trình trực tiếp lên từng cơ sở đào tạo. Nếu một trường cho rằng IELTS 6.0 đáng được cộng 0,5 điểm còn trường khác cho rằng nên cộng 1 điểm, sự khác biệt đó không nhất thiết sai. Nhưng mỗi trường phải chứng minh được tại sao mức của mình phù hợp với yêu cầu đào tạo”, ông Phong chia sẻ.
Ông Phong cho rằng không nên chỉ tranh luận liệu việc thay đổi chính sách có phải một “cú bẻ lái” hay không. Điều quan trọng hơn là mức độ dự báo của chính sách đối với người chịu tác động.
Một chuỗi điều chỉnh có thể được cơ quan quản lý nhìn nhận như một lộ trình kéo dài nhiều năm, nhưng với học sinh, điều quyết định lại là quy định nào áp dụng đúng vào năm các em nộp hồ sơ và các em biết quy định đó sớm đến đâu.
“Vì vậy, tôi nghĩ con số 26 mức điểm cộng nên được xem như dấu hiệu của một vấn đề quản trị lớn hơn chứ không chỉ là bằng chứng để tranh luận giữ hay bỏ IELTS. Ở cấp hệ thống, cần làm rõ những giới hạn chung đối với cách các tiêu chí bổ sung được sử dụng. Ở cấp trường, mỗi khác biệt trong tuyển sinh phải đi kèm bằng chứng và trách nhiệm giải trình. Ở cấp người học, bất kỳ thay đổi lớn nào cũng phải tính đến thời điểm áp dụng và khả năng thích nghi của những khóa học sinh đang ở giai đoạn chuyển tiếp”, ông Phong nhấn mạnh.
Nếu chỉ xóa 26 mức điểm cộng mà không giải quyết những vấn đề trên, hệ thống có thể loại bỏ một biểu hiện nhưng chưa chắc sửa được cơ chế tạo ra vấn đề.
Điều đáng quan tâm vì thế không chỉ là có bao nhiêu cách cộng điểm, mà là Bộ GD&ĐT sẽ thiết lập những nguyên tắc và giới hạn nào để quyền tự chủ tuyển sinh của các trường vẫn gắn với mục tiêu đào tạo, có thể được kiểm chứng, đồng thời giúp người học có khả năng dự báo và chuẩn bị tốt hơn trước những thay đổi của chính sách.