Thuốc hóa học chiếm hơn 80%
Thông tin đưa ra tại diễn đàn Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) vùng ĐBSCL năm 2026, diễn ra ngày 8/10, tại Cần Thơ. Bà Bùi Thanh Hương - Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ NN&MT) cho biết, thuốc BVTV là một trong những vật tư quan trọng của sản xuất nông nghiệp. Thuốc góp phần nâng cao năng suất, chất lượng nông sản, bảo đảm an ninh lương thực quốc gia và phục vụ xuất khẩu.
Tuy nhiên, theo bà Hương, việc lạm dụng thuốc BVTV làm tăng chi phí sản xuất, giảm hiệu quả kinh tế của nông hộ; ảnh hưởng tới sức khỏe người trực tiếp sử dụng, ô nhiễm môi trường và để lại dư lượng trên nông sản.
Hiện, lượng thuốc BVTV sử dụng bình quân cả nước hơn 3,4 kg/ha, riêng vùng ĐBSCL hơn 5 kg/ha, tương đương Thái Lan, thấp hơn nhiều so với Trung Quốc (13,1 kg/ha), Nhật Bản (11,8 kg/ha) và Malaysia (8,1 kg/ha)...
Theo bà Hương, công tác quản lý, sử dụng thuốc BVTV đã có chuyển đổi tích cực và đạt nhiều kết quả. Tuy nhiên, mức sử dụng trên một đơn vị canh tác tại một số địa phương vẫn còn cao, thuốc BVTV hóa học vẫn chiếm tỷ trọng áp đảo (hơn 80% tổng lượng sử dụng).
Bình quân cả nước sử dụng thuốc BVTV hóa học hơn 2,7 kg/ha, tại vùng ĐBSCL hơn 4,2 kg/ha. Với thuốc BVTV sinh học, cả nước sử dụng bình quân hơn 0,6 kg/ha, vùng ĐBSCL 0,8 kg/ha.
Nguyên nhân vùng ĐBSCL sử dụng nhiều thuốc BVTV, theo bà Hương, do thâm canh lúa 2-3 vụ/năm, áp lực sinh vật gây hại cao, tập quán canh tác và thói quen sử dụng thuốc theo định kỳ, khả năng tiếp cận thuốc sinh học còn hạn chế.
Còn tình trạng sử dụng thuốc ngoài danh mục, không đúng liều lượng, không bảo đảm thời gian cách ly - nguyên nhân dẫn tới một số cảnh báo về dư lượng của nước nhập khẩu và mất an toàn thực phẩm.
Theo đại diện Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, các chính sách cơ bản đã được hoàn thiện nhưng một số quy định chưa theo kịp yêu cầu thực tiễn. Quy định ưu tiên phát triển thuốc BVTV sinh học còn hạn chế, chưa đáp ứng nhu cầu phát triển.
Các địa phương đã tích cực xây bể chứa, thu gom và xử lý bao bì thuốc sau sử dụng. Tuy nhiên, còn một số nông dân không tuân thủ, việc thu gom bao gói sau sử dụng chưa thực hiện một cách nghiêm túc và xử lý còn hạn chế...
5 quy tắc vàng với người nông dân
GS.TS Phạm Văn Toản - Phó Chủ tịch Hội Doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh thuốc BVTV Việt Nam (VIPA) khuyến cáo, nông dân sử dụng thuốc BVTV an toàn cần tuân thủ “5 quy tắc vàng”: Tuân thủ các khuyến cáo về sử dụng an toàn và hiệu quả thuốc BVTV. Đọc và hiểu các thông tin, ký hiệu ghi trên nhãn thuốc. Mặc đồ bảo hộ lao động phù hợp. Cẩn thận khi phun thuốc, bảo quản tốt bình bơm, xử lý nước súc rửa đúng cách. Thực hiện tốt các biện pháp vệ sinh cá nhân.
Chuyên gia cũng khuyến cáo, không vận chuyển thuốc BVTV chung với thực phẩm; lưu giữ, bảo quản thuốc chưa sử dụng trong tủ kín có khóa cẩn thận, xa khu vực sinh hoạt của gia đình, xa tầm tay trẻ em. Khi pha thuốc cần cẩn thận sử dụng các dụng cụ đong đo rõ ràng, đúng kỹ thuật. Nếu cần pha trộn nhiều loại thuốc cần được pha bên ngoài theo nguyên tắc “thuốc bột pha trước, thuốc nước vào sau”....
GS.TS Phạm Văn Toản cũng lưu ý, tuân thủ đúng thời gian cách ly của thuốc BVTV nhằm đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm, nâng cao giá trị nông sản Việt Nam trên thị trường.
Bà Phạm Thị Minh Hiếu - Chi Cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Cần Thơ cho biết, kết quả thực hiện mô hình trình diễn sử dụng thuốc BVTV an toàn, hiệu quả trên địa bàn thành phố cho thấy, mô hình trên cây lúa giúp giảm chi phí và tăng lợi nhuận rõ rệt. Theo đó, chi phí sản xuất giảm hơn 3 triệu đồng/ha so với sản xuất tập quán truyền thống; lợi nhuận tăng hơn 8,8 triệu đồng/ha.
Mô hình trên cây sầu riêng cũng giúp giảm hơn 17% lượng phân đạm; giảm hơn 61% số lần phun thuốc trừ sâu; giảm chi phí sản xuất gần 10 triệu đồng/ha (nhờ giảm chi phí phân bón và thuốc BVTV). Nhờ đó, lợi nhuận tăng hơn 6,3 triệu đồng/ha so với đối chứng; giá thành sản xuất giảm (28.101 đồng/kg, so với 30.008 đồng/kg ở đối chứng).
Thực hiện các mô hình thuộc Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao phát thải thấp, đến nay Cần Thơ triển khai 89 mô hình với tổng diện tích 14.647 ha (12 mô hình thí điểm và 77 mô hình nhân rộng). Các mô hình đã giảm lượng giống, giảm phân bón hóa học, giảm tần suất phun thuốc BVTV, gia tăng lợi nhuận.
"Hiệu quả các mô hình góp phần thay đổi tập quán, chuyển từ canh tác truyền thống sang phương thức kỹ thuật tiên tiến, sản phẩm đầu ra đạt chuẩn chất lượng. Qua đó còn giúp bảo vệ sức khỏe nông dân, người tiêu dùng và giảm thiểu ô nhiễm sinh thái", bà Hiếu đánh giá.