Cơ sở để hình thành các vùng nguyên liệu quy mô lớn
Ngày 4/8, tại Cần Thơ diễn ra Hội thảo nhân rộng vùng nguyên liệu sản xuất theo Đề án Phát triển bền vững 1 triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao, phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL).
Sở Nông nghiệp và Môi trường (NN&MT) Cần Thơ cho biết, sau 2 năm triển khai các mô hình thí điểm sản xuất lúa chất lượng cao, phát thải thấp đều cho kết quả khả quan. Các mô hình thí điểm cho thấy, lượng giống giảm 40-50%, phân đạm giảm trên 30%, giảm 2-3 lần phun thuốc, lượng nước tưới giảm 30-40% so với canh tác truyền thống. Chi phí giảm, nhưng lợi nhuận của nông dân vẫn tăng từ 1,3 - 6,5 triệu đồng/ha. Cùng đó, lượng phát thải khí nhà kính cũng giảm mạnh.
Theo NN&MT Cần Thơ, sau thời gian thí điểm, địa phương đang từng bước chuyển sang sản xuất đại trà, xây dựng vùng nguyên liệu sản xuất lúa ở quy mô lớn.
Ông Nguyễn Văn Dũng - Chủ tịch HĐQT Hợp tác xã Kiến Thành, Cần Thơ - chia sẻ, trước đây, nông dân chủ yếu sản xuất riêng lẻ nên rất khó áp dụng đồng bộ quy trình kỹ thuật và yêu cầu của doanh nghiệp thu mua. Khi vào hợp tác xã, các hộ sản xuất đồng thời, cùng quy trình canh tác, tiêu chuẩn. Từ đó hình thành vùng nguyên liệu đủ lớn để nâng cao hiệu quả sản xuất, từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.
Theo các chuyên gia, các mô hình thí điểm trồng lúa chất lượng cao, phát thải thấp triển khai tại ĐBSCL đã chứng minh hiệu quả. Để tạo ra nguồn nguyên liệu ổn định, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường, nâng cao giá trị hạt gạo Việt Nam, các mô hình thí điểm cần chuyển thành vùng sản xuất đại trà. Từ đó hình thành những vùng nguyên liệu tập trung, được tổ chức sản xuất đồng bộ, truy xuất nguồn gốc, chuỗi giá trị.
Thách thức từ liên kết chuỗi giá trị
Đại diện Viện Nghiên cứu lúa gạo quốc tế (IRRI) nhận định, để chuyển từ các mô hình thí điểm sang vùng nguyên liệu quy mô lớn, cần tổ chức lại sản xuất thông qua hợp tác xã. Từ đó hình thành vùng nguyên liệu có chất lượng đồng đều, tạo điều kiện áp dụng cơ giới hóa, chuyển đổi số và đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp.
Ông Lê Thanh Tùng - Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký Hiệp hội Ngành hàng lúa gạo Việt Nam (VIETRISA) - cho rằng, vấn đề kỹ thuật đã được giải, nhưng vấn đề còn lại nằm ở kết nối vùng nguyên liệu với thị trường thông qua liên kết chuỗi giá trị. Khi nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp và các đơn vị cung ứng dịch vụ cùng tham gia, vùng nguyên liệu mới thực sự tạo ra giá trị bền vững.
Theo ông Tùng, việc phát triển các vùng liên kết sẽ tạo nền tảng để xây dựng thương hiệu Gạo Việt xanh, phát thải thấp, thúc đẩy truy xuất nguồn gốc và nâng cao năng lực cạnh tranh của gạo Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Theo các doanh nghiệp, khi vùng nguyên liệu được tổ chức bài bản và có sự liên kết chặt chẽ giữa các bên, doanh nghiệp có thể đầu tư lâu dài vào chuyển giao kỹ thuật, sử dụng vật tư hiệu quả. Khi đó, doanh nghiệp cùng xây dựng những chuỗi giá trị mang lại lợi ích bền vững cho cả người sản xuất và thị trường.
Theo Sở NN&MT Cần Thơ, việc cấp mã số vùng trồng sẽ góp phần chuẩn hóa quy trình sản xuất, tăng cường quản lý chất lượng, đáp ứng yêu cầu của thị trường và tạo nền tảng để phát triển các vùng nguyên liệu theo hướng hiện đại. Trong đó, ứng dụng nền tảng số để quản lý mã vùng trồng, dữ liệu sản xuất, phục vụ truy xuất thuận lợi, như qua ứng dụng ViriCert.