Chuyển đổi xanh là điều kiện bắt buộc với nông nghiệp

TPO - Đồng bằng sông Cửu Long đang chịu sự đe dọa của biến đổi khí hậu, các hoạt động canh tác nông nghiệp truyền thống làm trầm trọng thêm tình hình khi phát thải khí nhà kính. Do vậy, chuyển đổi xanh không còn là một lựa chọn, đã thành yêu cầu bắt buộc để tồn tại và cạnh tranh.

Nhận định được đưa ra tại Hội thảo Chuyển đổi xanh trong nông nghiệp: Từ công nghệ đến thị trường, do Báo Tuổi Trẻ phối hợp với UBND TP. Cần Thơ, Đại học Cần Thơ tổ chức, chiều 29/5.

tp-ht.jpg
Quang cảnh hội thảo.

Ông Lê Công Lý - Phó Chủ tịch Thường trực UBND TP. Cần Thơ - cho biết, Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng sản xuất nông nghiệp lớn nhất cả nước. Tuy nhiên, chính vùng đất ấy đang đứng trước những thách thức chưa từng có. Biến đổi khí hậu ngày càng cực đoan. Xâm nhập mặn, sạt lở, hạn hán diễn biến phức tạp. Chi phí sản xuất tăng cao. Yêu cầu thị trường ngày càng khắt khe. Trước đây thế giới cần “nhiều nông sản”, nay cần “nông sản xanh”, “nông sản sạch”, “nông sản có trách nhiệm”.

Theo ông Lý, các thị trường lớn không chỉ đòi hỏi sản phẩm ngon, còn hỏi sản phẩm đó phát thải bao nhiêu, truy xuất được nguồn gốc không, thân thiện với môi trường không, có bảo vệ sức khỏe cộng đồng không? Điều đó cho thấy, chuyển đổi xanh không còn là xu hướng lựa chọn, đã trở thành điều kiện bắt buộc để tồn tại và cạnh tranh.

Theo ông Lý, hiện nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã, nhà khoa học và bà con nông dân trong vùng đã bắt đầu chuyển mình mạnh mẽ. Từ mô hình lúa chất lượng cao, phát thải thấp, nông nghiệp tuần hoàn, canh tác hữu cơ đến chăn nuôi không kháng sinh, ứng dụng năng lượng tái tạo, tận dụng phụ phẩm nông nghiệp để tạo ra giá trị mới. Tất cả cho thấy, ĐBSCL đang từng bước chuyển từ “vùng nguyên liệu” sang “vùng kinh tế nông nghiệp xanh”.

ly.jpg
Ông Lê Công Lý - Phó Chủ tịch Thường trực UBND TP Cần Thơ phát biểu.

Ông Lý Việt Hùng - Trung tâm Thích ứng biến đổi khí hậu và Trung hòa carbon (Cục Biến đổi khí hậu, Bộ NN&MT) cho biết, chuyển đổi xanh ở ĐBSCL đã có những điểm sáng ban đầu, như các mô hình lúa - tôm hữu cơ; tưới ngập khô xen kẽ giúp giảm 30-40% phát thải khí methane hay thí điểm tín chỉ carbon lúa…

Tuy nhiên, quá trình này, theo ông Hùng, cũng đang gặp phải ma trận rào cản gồm công nghệ (chi phí đầu tư cao, hạ tầng số yếu); tài chính (nông dân thiếu vốn, vắng tín dụng xanh); thị trường (chuỗi giá trị manh mún, thiếu chứng nhận xanh được quốc tế thừa nhận); nhận thức (thiếu tập huấn bài bản về canh tác giảm phát thải).

Ông Hùng chỉ ra, chuyển đổi xanh cần tập trung vào 4 trụ cột công nghệ gồm công nghệ số và quan trắc thông minh; công nghệ sinh học và giống thông minh; quản lý nước và năng lượng tái tạo; nông nghiệp tuần hoàn và không phát thải ròng. Và công nghệ chỉ thực sự thành công khi đi kèm với cơ chế tài chính và thể chế phù hợp.

Ông Hùng nêu 3 khuyến nghị hành động ngay, gồm: Bộ NN&MT sớm ban hành khung giám sát phát thải và danh mục công nghệ ưu tiên cấp vùng. UBND các tỉnh và Ngân hàng Nhà nước khởi động ngay mô hình thí điểm “Ngân hàng công nghệ xanh di động” để vừa cung cấp thiết bị tận nơi, vừa cấp tín dụng và tập huấn tại ruộng. Doanh nghiệp xuất khẩu cam kết trích 0,5% doanh thu xuất khẩu nông/thủy sản từ ĐBSCL để thành lập Quỹ Đổi mới sáng tạo xanh vùng nhằm tài trợ cho các ý tưởng cấp thôn/ấp.

ĐBSCL đang chịu sự đe dọa của biến đổi khí hậu, các hoạt động canh tác nông nghiệp truyền thống (thâm canh 3 vụ, lạm dụng phân bón hóa học, nuôi tôm siêu thâm canh) đang làm trầm trọng thêm tình hình khi phát thải ra lượng lớn khí nhà kính. Tuy nhiên, theo các địa phương, quá trình chuyển đổi xanh trong nông nghiệp còn nhiều hạn chế, như: Quy mô sản xuất còn manh mún, nhỏ lẻ, việc chưa tham gia chuỗi liên kết gây khó khăn trong áp dụng đồng bộ công nghệ và tiêu chuẩn xanh. Tình trạng sản xuất không theo quy hoạch, phá vỡ vùng nguyên liệu khi giá thị trường biến động còn xảy ra, ảnh hưởng đến tính ổn định của chuỗi cung ứng. Tín dụng cho nông nghiệp xanh còn khó tiếp cận; nông dân thiếu vốn để đầu tư công nghệ, chứng nhận tiêu chuẩn xanh do chi phí cao…