Mở lối thoát nghèo
Những năm qua, tại nhiều vùng quê Thanh Hóa, cây riềng vốn quen thuộc trong những khu vườn gia đình, chủ yếu được trồng để làm gia vị trong bữa ăn hằng ngày. Thế nhưng, cùng với nhu cầu thị trường và sự thay đổi trong tư duy sản xuất, riềng đang dần bước ra khỏi khuôn viên vườn nhà để trở thành cây hàng hóa, được đưa vào những diện tích đất sản xuất nông nghiệp trước đây cho thu nhập chưa tương xứng với công sức bỏ ra.
Tại thôn Mỹ Quang (xã Thăng Bình), màu xanh của những luống riềng nay đã thay thế một phần diện tích trồng mía, sắn trước đây. Trên những khu đất dốc, nơi cây trồng truyền thống thường chịu ảnh hưởng bởi điều kiện thời tiết và hiệu quả kinh tế thiếu ổn định, một số hộ dân đã mạnh dạn chuyển đổi sang trồng riềng. Từ kết quả thực tế, mô hình dần được nhân rộng, tạo thêm lựa chọn sinh kế cho người dân địa phương.
Từng có nhiều năm gắn bó với cây mía, ông Trần Thế Xanh (thôn Mỹ Quang, xã Thăng Bình), không nghĩ có ngày loại cây gia vị quen thuộc trong căn bếp mỗi gia đình lại trở thành nguồn thu nhập chính của gia đình mình.
Những năm trước, trên diện tích đất sản xuất của gia đình, ông Xanh chủ yếu trồng mía, ngô, sắn. Công việc đồng áng quanh năm không lúc nào ngơi tay, từ làm đất, xuống giống đến chăm sóc, thu hoạch. Thế nhưng, thu nhập mang lại không tương xứng với công sức bỏ ra. Giá nông sản thiếu ổn định, chi phí đầu tư khiến cuộc sống của gia đình ông và nhiều hộ dân trong thôn vẫn gặp không ít khó khăn.
Không muốn tiếp tục phụ thuộc vào những cây trồng cũ, ông Xanh bắt đầu tìm hiểu các mô hình sản xuất khác. Ông dành thời gian đọc tài liệu, tìm kiếm thông tin trên internet, đồng thời đến một số địa phương để tham khảo cách làm của những hộ đã có kinh nghiệm.
Sau quá trình tìm hiểu, ông nhận thấy cây riềng có khả năng thích nghi với điều kiện đất đai tại địa phương, không đòi hỏi quá nhiều công chăm sóc, trong khi nhu cầu tiêu thụ khá lớn. Từ suy nghĩ đó, ông quyết định chuyển một phần diện tích đất sang trồng thử nghiệm.
Những vụ đầu tiên cho kết quả khả quan. Cây riềng sinh trưởng tốt, củ phát triển, đầu ra có nhu cầu. Ông Xanh tiếp tục mở rộng diện tích, từng bước thay đổi phương thức sản xuất của gia đình. Đến nay, gia đình ông có khoảng 1ha riềng. Theo ông Xanh, diện tích này cho sản lượng khoảng 70 tấn củ mỗi năm, mang lại doanh thu ước tính 400-500 triệu đồng. So với trồng mía trước đây, nguồn thu từ cây riềng cao hơn đáng kể.
“Riềng phù hợp với đất đai ở đây, ít sâu bệnh, không phải chăm sóc quá cầu kỳ. Quan trọng là sản phẩm có người thu mua nên người dân có thêm động lực đầu tư”, ông Xanh chia sẻ.
Không chỉ có giá trị kinh tế, cây riềng còn giúp người trồng chủ động hơn trong việc bố trí thời gian sản xuất. Theo kinh nghiệm của ông Xanh, sau khoảng 12 tháng, riềng có thể cho thu hoạch với năng suất khoảng 50 tấn/ha. Nếu kéo dài thời gian sinh trưởng đến khoảng 18 tháng, trong điều kiện phù hợp, sản lượng có thể đạt 75-80 tấn/ha.
Một đặc điểm khác khiến người dân yên tâm là củ riềng có thể để dưới đất thêm một thời gian khi chưa thuận lợi về giá hoặc chưa bố trí được nhân công thu hoạch. Nhờ đó, người trồng có thêm sự chủ động trong việc lựa chọn thời điểm bán sản phẩm.
Từ câu chuyện của gia đình ông Xanh, nhiều hộ trong thôn Mỹ Quang bắt đầu tìm hiểu và chuyển sang trồng riềng. Ông không chỉ chia sẻ kinh nghiệm mà còn vận động bà con mạnh dạn thay đổi cây trồng, lựa chọn hướng sản xuất phù hợp hơn với điều kiện đất đai và nhu cầu thị trường.
Theo người dân địa phương, trước đây người dân chủ yếu sản xuất theo tập quán, lựa chọn cây trồng quen thuộc nên thu nhập không cao. Từ khi một số hộ chuyển sang trồng riềng và có kết quả, bà con bắt đầu học hỏi, làm theo. Cùng với đó, người dân cũng mong muốn cây riềng được phát triển theo hướng bài bản hơn, được hỗ trợ về quy hoạch vùng trồng, hướng dẫn kỹ thuật và kết nối thị trường, người dân sẽ yên tâm đầu tư mở rộng sản xuất để mang lại thu nhập lâu dài.
“Cây riềng dễ trồng, dễ chăm sóc mà hiệu quả kinh tế nhìn thấy được. Nhờ loại cây này, nhiều gia đình không chỉ thoát nghèo mà còn có thêm thu nhập, cuộc sống ổn định hơn. Người dân cũng có thêm lựa chọn để phát triển kinh tế trên diện tích đất của gia đình”, bà Hồng (xã Thăng Bình) cho hay.
Liên kết sản xuất, giữ vững sinh kế thoát nghèo
Tại xã Công Chính, cây riềng cũng đang được nhiều hộ nông dân lựa chọn để phát triển kinh tế. Trong số đó, ông Nguyễn Công Trứ (thôn Phú Sơn), là một trong những người có quá trình gắn bó lâu năm với loại cây này.
Cơ duyên đến với cây riềng của ông Trứ bắt đầu từ năm 2012. Khi ấy, gia đình ông chủ yếu trồng mía, sắn và một số cây nông nghiệp khác. Nhận thấy điều kiện đất đai tại địa phương có thể phù hợp với cây riềng, ông dành một sào đất để trồng thử.
“Ban đầu, gia đình chỉ trồng ít để thử xem cây riềng có phù hợp với đất đai, khí hậu ở đây hay không. Sau một thời gian thấy cây sinh trưởng tốt, năng suất cao, đầu ra có nhu cầu nên tôi quyết định mở rộng diện tích”, ông Trứ kể.
Từ diện tích nhỏ ban đầu, ông Trứ từng bước thuê thêm đất, mở rộng quy mô sản xuất. Đến nay, gia đình ông duy trì khoảng 20ha riềng, chủ yếu trên diện tích đất thuê, với năng suất bình quân ước đạt 50 tấn/ha.
Theo ông Trứ, giá riềng củ phụ thuộc vào chất lượng sản phẩm và nhu cầu thị trường, dao động khoảng 6.000-12.000 đồng/kg. Vì vậy, để sản xuất có hiệu quả, người trồng không chỉ quan tâm đến diện tích và sản lượng mà còn phải tính toán chi phí, thời điểm thu hoạch và đầu ra.
Quy mô sản xuất ngày càng mở rộng cũng kéo theo nhu cầu lao động. Hiện gia đình ông Trứ tạo việc làm thường xuyên cho khoảng 10-15 lao động, tùy thời điểm và khối lượng công việc. Những công đoạn làm đất, trồng, chăm sóc, thu hoạch đều cần nhân công, qua đó tạo thêm việc làm cho người dân địa phương.
“Làm nông nghiệp muốn có thu nhập khá thì ngoài kinh nghiệm, người sản xuất phải biết tính toán, lựa chọn cây trồng phù hợp và tìm được thị trường tiêu thụ. Trồng riềng không chỉ là chuyện làm ra nhiều củ mà còn phải bảo đảm chất lượng, đáp ứng yêu cầu của người mua”, ông Trứ nói thêm.
Từ kinh nghiệm sản xuất của gia đình, tháng 7/2026, ông Trứ tham gia thành lập Chi hội Nông dân nghề nghiệp trồng riềng theo hướng tiêu chuẩn VietGAP tại địa phương, với 30 hộ tham gia. Đây được xem là bước chuyển từ sản xuất riêng lẻ sang tập hợp những hộ có cùng ngành nghề để chia sẻ kinh nghiệm, hỗ trợ nhau trong quá trình canh tác.
Với vai trò Chi hội trưởng, ông Trứ thường xuyên trao đổi với các thành viên về cách chọn giống, làm đất và chăm sóc. Theo ông, cây riềng không quá khó trồng nhưng muốn đạt năng suất và chất lượng tốt thì phải chú ý ngay từ khâu đầu tiên.
Củ giống cần khỏe mạnh, đất trồng phải tơi xốp, bảo đảm dinh dưỡng và đặc biệt chú trọng thoát nước khi mưa lớn để hạn chế tình trạng úng, thối củ. Khi hướng tới VietGAP, người trồng còn phải sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật đúng quy định, bảo đảm thời gian cách ly, ghi chép nhật ký canh tác và giữ vệ sinh trong quá trình thu hoạch, sơ chế.
“Trước đây, mỗi hộ làm theo kinh nghiệm của mình. Khi tham gia chi hội, bà con có điều kiện trao đổi, học hỏi và thống nhất cách làm. Muốn sản phẩm có chất lượng tốt, bán được giá thì phải chú ý đến quy trình sản xuất, chứ không thể chỉ chạy theo sản lượng”, ông Trứ nói.
Trao đổi với Tiền Phong, ông Lương Minh Hùng, Bí thư Đảng ủy xã Công Chính, cho biết toàn xã hiện có khoảng 220ha cây riềng. Sản lượng mỗi năm đạt hàng trăm tấn, góp phần nâng cao thu nhập cho nhiều hộ nông dân và tạo việc làm cho lao động địa phương. Tuy nhiên, để cây riềng thực sự trở thành cây trồng hàng hóa, mang lại nguồn thu ổn định lâu dài, việc mở rộng diện tích cần đi cùng tổ chức sản xuất và kiểm soát thị trường.
“Thực tế, giá riềng có thể biến động theo từng thời điểm nhưng vẫn cao hơn so với một số cây trồng khác như mía, sắn. Nếu người dân cùng mở rộng diện tích nhưng thiếu thông tin thị trường, không kiểm soát được chi phí hoặc chưa có phương án tiêu thụ phù hợp, hiệu quả kinh tế sẽ bị ảnh hưởng. Vì vậy, việc liên kết sản xuất, chia sẻ thông tin và chủ động tìm kiếm khách hàng có ý nghĩa rất quan trọng”, ông Hoàn phân tích.
Theo lãnh đạo địa phương, ngoài việc vận động các hộ tham gia tổ chức sản xuất, hoàn thiện quy trình canh tác, chú trọng chất lượng và từng bước mở rộng liên kết tiêu thụ, xã đang đề xuất ngành chức năng và tìm kiếm nhà đầu tư đứng ra thu mua, chế biến, giúp việc tiêu thụ nông sản đảm bảo bền vững. Việc hình thành vùng trồng tập trung, có quy trình sản xuất và kiểm soát nguồn gốc, có điểm tiêu thụ không chỉ tạo điều kiện để sản phẩm riềng nâng cao giá trị mà còn để cây riềng phát huy giá trị, giúp người dân thoát nghèo, sinh kế ổn định.