Cây riềng bén rễ, mở lối thoát nghèo cho nông dân xứ Thanh

TPO - Từ những thửa đất trồng cây truyền thống, nhiều hộ nông dân ở Thanh Hóa đã mạnh dạn chuyển sang trồng riềng. Loại cây gia vị quen thuộc không chỉ mang lại nguồn thu nhập hàng trăm triệu đồng mỗi năm mà còn mở ra hướng phát triển vùng nguyên liệu, tạo việc làm và sinh kế ổn định cho người dân.

Mở lối thoát nghèo

Những năm qua, tại nhiều vùng quê Thanh Hóa, cây riềng vốn quen thuộc trong những khu vườn gia đình, chủ yếu được trồng để làm gia vị trong bữa ăn hằng ngày. Thế nhưng, cùng với nhu cầu thị trường và sự thay đổi trong tư duy sản xuất, riềng đang dần bước ra khỏi khuôn viên vườn nhà để trở thành cây hàng hóa, được đưa vào những diện tích đất sản xuất nông nghiệp trước đây cho thu nhập chưa tương xứng với công sức bỏ ra.

tp_1.jpg
Các hộ dân ở Thăng Bình có cuộc sống ổn định khi chuyển đổi cây trồng.

Tại thôn Mỹ Quang (xã Thăng Bình), màu xanh của những luống riềng nay đã thay thế một phần diện tích trồng mía, sắn trước đây. Trên những khu đất dốc, nơi cây trồng truyền thống thường chịu ảnh hưởng bởi điều kiện thời tiết và hiệu quả kinh tế thiếu ổn định, một số hộ dân đã mạnh dạn chuyển đổi sang trồng riềng. Từ kết quả thực tế, mô hình dần được nhân rộng, tạo thêm lựa chọn sinh kế cho người dân địa phương.

Từng có nhiều năm gắn bó với cây mía, ông Trần Thế Xanh (thôn Mỹ Quang, xã Thăng Bình), không nghĩ có ngày loại cây gia vị quen thuộc trong căn bếp mỗi gia đình lại trở thành nguồn thu nhập chính của gia đình mình.

Những năm trước, trên diện tích đất sản xuất của gia đình, ông Xanh chủ yếu trồng mía, ngô, sắn. Công việc đồng áng quanh năm không lúc nào ngơi tay, từ làm đất, xuống giống đến chăm sóc, thu hoạch. Thế nhưng, thu nhập mang lại không tương xứng với công sức bỏ ra. Giá nông sản thiếu ổn định, chi phí đầu tư khiến cuộc sống của gia đình ông và nhiều hộ dân trong thôn vẫn gặp không ít khó khăn.

Không muốn tiếp tục phụ thuộc vào những cây trồng cũ, ông Xanh bắt đầu tìm hiểu các mô hình sản xuất khác. Ông dành thời gian đọc tài liệu, tìm kiếm thông tin trên internet, đồng thời đến một số địa phương để tham khảo cách làm của những hộ đã có kinh nghiệm.

tp_3.jpg
Cây riềng phát triển tốt ở nhiều vùng đất Thanh Hóa.

Sau quá trình tìm hiểu, ông nhận thấy cây riềng có khả năng thích nghi với điều kiện đất đai tại địa phương, không đòi hỏi quá nhiều công chăm sóc, trong khi nhu cầu tiêu thụ khá lớn. Từ suy nghĩ đó, ông quyết định chuyển một phần diện tích đất sang trồng thử nghiệm.

Những vụ đầu tiên cho kết quả khả quan. Cây riềng sinh trưởng tốt, củ phát triển, đầu ra có nhu cầu. Ông Xanh tiếp tục mở rộng diện tích, từng bước thay đổi phương thức sản xuất của gia đình. Đến nay, gia đình ông có khoảng 1ha riềng. Theo ông Xanh, diện tích này cho sản lượng khoảng 70 tấn củ mỗi năm, mang lại doanh thu ước tính 400-500 triệu đồng. So với trồng mía trước đây, nguồn thu từ cây riềng cao hơn đáng kể.

“Riềng phù hợp với đất đai ở đây, ít sâu bệnh, không phải chăm sóc quá cầu kỳ. Quan trọng là sản phẩm có người thu mua nên người dân có thêm động lực đầu tư”, ông Xanh chia sẻ.

Không chỉ có giá trị kinh tế, cây riềng còn giúp người trồng chủ động hơn trong việc bố trí thời gian sản xuất. Theo kinh nghiệm của ông Xanh, sau khoảng 12 tháng, riềng có thể cho thu hoạch với năng suất khoảng 50 tấn/ha. Nếu kéo dài thời gian sinh trưởng đến khoảng 18 tháng, trong điều kiện phù hợp, sản lượng có thể đạt 75-80 tấn/ha.

Một đặc điểm khác khiến người dân yên tâm là củ riềng có thể để dưới đất thêm một thời gian khi chưa thuận lợi về giá hoặc chưa bố trí được nhân công thu hoạch. Nhờ đó, người trồng có thêm sự chủ động trong việc lựa chọn thời điểm bán sản phẩm.

Từ câu chuyện của gia đình ông Xanh, nhiều hộ trong thôn Mỹ Quang bắt đầu tìm hiểu và chuyển sang trồng riềng. Ông không chỉ chia sẻ kinh nghiệm mà còn vận động bà con mạnh dạn thay đổi cây trồng, lựa chọn hướng sản xuất phù hợp hơn với điều kiện đất đai và nhu cầu thị trường.

anh-620.jpg
Cây riềng giúp người dân có thu nhập khá.

Theo người dân địa phương, trước đây người dân chủ yếu sản xuất theo tập quán, lựa chọn cây trồng quen thuộc nên thu nhập không cao. Từ khi một số hộ chuyển sang trồng riềng và có kết quả, bà con bắt đầu học hỏi, làm theo. Cùng với đó, người dân cũng mong muốn cây riềng được phát triển theo hướng bài bản hơn, được hỗ trợ về quy hoạch vùng trồng, hướng dẫn kỹ thuật và kết nối thị trường, người dân sẽ yên tâm đầu tư mở rộng sản xuất để mang lại thu nhập lâu dài.

“Cây riềng dễ trồng, dễ chăm sóc mà hiệu quả kinh tế nhìn thấy được. Nhờ loại cây này, nhiều gia đình không chỉ thoát nghèo mà còn có thêm thu nhập, cuộc sống ổn định hơn. Người dân cũng có thêm lựa chọn để phát triển kinh tế trên diện tích đất của gia đình”, bà Hồng (xã Thăng Bình) cho hay.

Liên kết sản xuất, giữ vững sinh kế thoát nghèo

Tại xã Công Chính, cây riềng cũng đang được nhiều hộ nông dân lựa chọn để phát triển kinh tế. Trong số đó, ông Nguyễn Công Trứ (thôn Phú Sơn), là một trong những người có quá trình gắn bó lâu năm với loại cây này.

Cơ duyên đến với cây riềng của ông Trứ bắt đầu từ năm 2012. Khi ấy, gia đình ông chủ yếu trồng mía, sắn và một số cây nông nghiệp khác. Nhận thấy điều kiện đất đai tại địa phương có thể phù hợp với cây riềng, ông dành một sào đất để trồng thử.

“Ban đầu, gia đình chỉ trồng ít để thử xem cây riềng có phù hợp với đất đai, khí hậu ở đây hay không. Sau một thời gian thấy cây sinh trưởng tốt, năng suất cao, đầu ra có nhu cầu nên tôi quyết định mở rộng diện tích”, ông Trứ kể.

tp_4.jpg
Mô hình trồng riềng và liên kết sản xuất tại xã Công Chính.

Từ diện tích nhỏ ban đầu, ông Trứ từng bước thuê thêm đất, mở rộng quy mô sản xuất. Đến nay, gia đình ông duy trì khoảng 20ha riềng, chủ yếu trên diện tích đất thuê, với năng suất bình quân ước đạt 50 tấn/ha.

Theo ông Trứ, giá riềng củ phụ thuộc vào chất lượng sản phẩm và nhu cầu thị trường, dao động khoảng 6.000-12.000 đồng/kg. Vì vậy, để sản xuất có hiệu quả, người trồng không chỉ quan tâm đến diện tích và sản lượng mà còn phải tính toán chi phí, thời điểm thu hoạch và đầu ra.

Quy mô sản xuất ngày càng mở rộng cũng kéo theo nhu cầu lao động. Hiện gia đình ông Trứ tạo việc làm thường xuyên cho khoảng 10-15 lao động, tùy thời điểm và khối lượng công việc. Những công đoạn làm đất, trồng, chăm sóc, thu hoạch đều cần nhân công, qua đó tạo thêm việc làm cho người dân địa phương.

“Làm nông nghiệp muốn có thu nhập khá thì ngoài kinh nghiệm, người sản xuất phải biết tính toán, lựa chọn cây trồng phù hợp và tìm được thị trường tiêu thụ. Trồng riềng không chỉ là chuyện làm ra nhiều củ mà còn phải bảo đảm chất lượng, đáp ứng yêu cầu của người mua”, ông Trứ nói thêm.

Từ kinh nghiệm sản xuất của gia đình, tháng 7/2026, ông Trứ tham gia thành lập Chi hội Nông dân nghề nghiệp trồng riềng theo hướng tiêu chuẩn VietGAP tại địa phương, với 30 hộ tham gia. Đây được xem là bước chuyển từ sản xuất riêng lẻ sang tập hợp những hộ có cùng ngành nghề để chia sẻ kinh nghiệm, hỗ trợ nhau trong quá trình canh tác.

Với vai trò Chi hội trưởng, ông Trứ thường xuyên trao đổi với các thành viên về cách chọn giống, làm đất và chăm sóc. Theo ông, cây riềng không quá khó trồng nhưng muốn đạt năng suất và chất lượng tốt thì phải chú ý ngay từ khâu đầu tiên.

Củ giống cần khỏe mạnh, đất trồng phải tơi xốp, bảo đảm dinh dưỡng và đặc biệt chú trọng thoát nước khi mưa lớn để hạn chế tình trạng úng, thối củ. Khi hướng tới VietGAP, người trồng còn phải sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật đúng quy định, bảo đảm thời gian cách ly, ghi chép nhật ký canh tác và giữ vệ sinh trong quá trình thu hoạch, sơ chế.

“Trước đây, mỗi hộ làm theo kinh nghiệm của mình. Khi tham gia chi hội, bà con có điều kiện trao đổi, học hỏi và thống nhất cách làm. Muốn sản phẩm có chất lượng tốt, bán được giá thì phải chú ý đến quy trình sản xuất, chứ không thể chỉ chạy theo sản lượng”, ông Trứ nói.

tp_5.jpg
tp_01.jpg
Địa phương mong sớm có nhà đầu tư thu mua, chế biến sản phẩm từ riềng.

Trao đổi với Tiền Phong, ông Lương Minh Hùng, Bí thư Đảng ủy xã Công Chính, cho biết toàn xã hiện có khoảng 220ha cây riềng. Sản lượng mỗi năm đạt hàng trăm tấn, góp phần nâng cao thu nhập cho nhiều hộ nông dân và tạo việc làm cho lao động địa phương. Tuy nhiên, để cây riềng thực sự trở thành cây trồng hàng hóa, mang lại nguồn thu ổn định lâu dài, việc mở rộng diện tích cần đi cùng tổ chức sản xuất và kiểm soát thị trường.

“Thực tế, giá riềng có thể biến động theo từng thời điểm nhưng vẫn cao hơn so với một số cây trồng khác như mía, sắn. Nếu người dân cùng mở rộng diện tích nhưng thiếu thông tin thị trường, không kiểm soát được chi phí hoặc chưa có phương án tiêu thụ phù hợp, hiệu quả kinh tế sẽ bị ảnh hưởng. Vì vậy, việc liên kết sản xuất, chia sẻ thông tin và chủ động tìm kiếm khách hàng có ý nghĩa rất quan trọng”, ông Hoàn phân tích.

Theo lãnh đạo địa phương, ngoài việc vận động các hộ tham gia tổ chức sản xuất, hoàn thiện quy trình canh tác, chú trọng chất lượng và từng bước mở rộng liên kết tiêu thụ, xã đang đề xuất ngành chức năng và tìm kiếm nhà đầu tư đứng ra thu mua, chế biến, giúp việc tiêu thụ nông sản đảm bảo bền vững. Việc hình thành vùng trồng tập trung, có quy trình sản xuất và kiểm soát nguồn gốc, có điểm tiêu thụ không chỉ tạo điều kiện để sản phẩm riềng nâng cao giá trị mà còn để cây riềng phát huy giá trị, giúp người dân thoát nghèo, sinh kế ổn định.

Cùng chuyên mục

Người trẻ bám buôn, tiếp sức những gia đình nghèo vươn lên

Người trẻ bám buôn, tiếp sức những gia đình nghèo vươn lên

TPO - Từ những cặp bò giống trao tay hộ nghèo, những ngôi nhà tình thương được dựng lên đến các mô hình sản xuất đang từng bước phát huy hiệu quả. Hành trình giảm nghèo ở buôn làng vùng sâu xa tỉnh Đắk Lắk đang có thêm nhiều gam màu tươi sáng. Đằng sau những đổi thay ấy là sự đồng hành bền bỉ của cán bộ cơ sở và nỗ lực vươn lên của người dân, họ đang biến sự hỗ trợ thành sinh kế, biến niềm tin thành động lực thoát nghèo bền vững.

Những lồng cá mở lối thoát nghèo giữa lòng hồ Bản Vẽ

Những lồng cá mở lối thoát nghèo giữa lòng hồ Bản Vẽ

TPO - Giữa mênh mông lòng hồ thủy điện Bản Vẽ, những lồng cá nối nhau trên mặt nước xanh thẳm đang mở ra hướng sinh kế mới cho người dân xã Yên Na, tỉnh Nghệ An. Từ những lồng cá đặc sản được chăm sóc mỗi ngày, người dân miền núi đang từng bước biến lợi thế lòng hồ thành nguồn thu nhập ổn định.

Giải bài toán thoát nghèo ở xã xa khu vực trung tâm nhất của Thái Nguyên

Giải bài toán thoát nghèo ở xã miền núi Thái Nguyên

TPO - Bằng Thành là xã miền núi xa trung tâm tỉnh Thái Nguyên, nơi điều kiện địa lý, kinh tế - xã hội còn khó khăn, nhưng hành trình giảm nghèo đang được bắt đầu từ chính những lợi thế sẵn có. Từ chuyển đổi cây trồng, phát triển chăn nuôi đến kết nối việc làm, ứng dụng công nghệ số, Bằng Thành từng bước tạo sinh kế, khơi dậy nội lực người dân trên con đường thoát nghèo bền vững.

Đưa sầu riêng lên đất keo, nông dân miền núi Đà Nẵng đổi đời

Đưa sầu riêng lên đất keo, nông dân miền núi Đà Nẵng đổi đời

TPO - Trên vùng đất vốn chỉ quen với cây keo, anh Nguyễn Đại Châu đã kiên trì đưa cây sầu riêng về trồng, từng bước biến thử nghiệm ban đầu thành mô hình kinh tế cho thu nhập hàng trăm triệu đồng mỗi năm. Câu chuyện của anh không chỉ là hành trình làm giàu từ chuyển đổi cây trồng mà còn gợi mở hướng đi mới trong phát triển sinh kế, giảm nghèo ở địa phương.

“Chàng trai 9X đánh thức giá trị cây chè, mở lối thoát nghèo”

Chàng trai 9X đánh thức giá trị cây chè, mở lối thoát nghèo

TPO - Từ những đồi chè xanh ở Đồng Hỷ (tỉnh Thái Nguyên), Phạm Tiến Đạt đang từng bước làm mới nghề truyền thống bằng tư duy sản xuất hiện đại. Không chỉ gây dựng kinh tế cho bản thân, anh còn kiên trì kết nối nông dân, hướng dẫn sản xuất chè an toàn, tạo sinh kế ổn định, giúp nhiều hội viên từng bước thoát nghèo, vươn lên có cuộc sống khá hơn.

Người trẻ mở lối tiêu thụ nông sản, tạo sinh kế ở vùng quê nghèo

Người trẻ mở lối tiêu thụ nông sản, tạo sinh kế ở vùng quê nghèo

TPO - Trở về quê sau những năm tháng bươn chải nơi phố thị, Bùi Thanh Tùng (32 tuổi) thành lập hợp tác xã, kết nối sản xuất với thị trường. Từ thu mua lá giang, chuối, bí đến phát triển chăn nuôi, mô hình đang mở thêm đầu ra cho nông sản, giúp người dân có việc làm và tăng thu nhập.

Chuyển đổi số mở lối thoát nghèo cho đồng bào vùng cao

Chuyển đổi số mở lối thoát nghèo cho đồng bào vùng cao

TPO - Từ những phiên livestream bán nông sản, đến hệ thống tưới tự động trên nương rau, công nghệ số đang từng bước thay đổi phương thức sản xuất, kinh doanh của đồng bào dân tộc thiểu số ở Sơn La. Chuyển đổi số giúp giảm sức lao động, nâng cao giá trị nông sản và mở rộng thị trường tiêu thụ, tăng thu nhập, giúp người dân từng bước thoát nghèo bền vững.

Đảng viên trẻ đánh thức giá trị chè dây giữa đại ngàn Yên Na

Đảng viên trẻ đánh thức giá trị chè dây giữa đại ngàn Yên Na

TPO - Từ loài dây leo mọc tự nhiên giữa núi rừng, đảng viên trẻ Lữ Khăm Kháy (trú bản Chà Hạ, xã Yên Na, Nghệ An) đã gây dựng vùng nguyên liệu, liên kết người dân sản xuất và đưa chè dây trở thành sản phẩm có thương hiệu. Hành trình ấy mở ra hướng sinh kế mới từ chính sản vật quê hương cho người dân vùng cao.

Đưa cây dứa lên đất đồi, mở hướng thoát nghèo cho bà con vùng biên

Đưa cây dứa lên đất đồi, mở hướng thoát nghèo cho bà con vùng biên

TPO - Từ những diện tích trồng thử nghiệm, xã biên giới Nhôn Mai (Nghệ An) đặt mục tiêu trồng mới 47ha dứa trong năm 2026. Với hiệu quả bước đầu và chính sách hỗ trợ phát triển cây dứa của tỉnh, địa phương kỳ vọng hình thành vùng sản xuất hàng hóa, khai thác hiệu quả đất đồi, nâng cao thu nhập và giảm nghèo bền vững.

Miền quê đổi đời nhờ cây dó trầm

Miền quê đổi đời nhờ cây dó trầm

TPO - Từ những vườn dó bầu xanh ngút mắt, người dân xã Phúc Trạch (Hà Tĩnh) đang từng bước gây dựng sinh kế bền vững, vươn lên làm giàu trên chính mảnh đất quê hương. Không chỉ dừng lại ở việc trồng và bán cây nguyên liệu, nhiều hộ dân đã mạnh dạn đầu tư chế biến sâu, phát triển các sản phẩm từ trầm hương, mở rộng thị trường và tạo việc làm cho lao động địa phương.

Cách 'biến di sản thành tài sản' ở một xã vùng sâu ở Lào Cai

Cách 'biến di sản thành tài sản' ở một xã vùng sâu ở Lào Cai

Từ những đôi tay bền bỉ giữ nghề đan lát đến những nếp nhà sàn, món ăn truyền thống được đưa vào phục vụ du khách, người Tày ở Nghĩa Đô - một xã xa đường cao tốc thuộc tỉnh Lào Cai đang tìm cách trao truyền bản sắc văn hóa qua nhiều thế hệ, đồng thời tạo thêm sinh kế từ du lịch cộng đồng.

Từ đối thoại đến hành động, mở hướng thoát nghèo ở Ea M’Droh

Từ đối thoại đến hành động, mở hướng thoát nghèo ở Ea M’Droh

TPO - Lắng nghe người dân để tìm đúng nguyên nhân nghèo, lựa chọn đúng hướng hỗ trợ là cách làm mới của xã Ea M’Droh, tỉnh Đắk Lắk. Qua đối thoại trực tiếp với các hộ nghèo, địa phương từng bước xây dựng giải pháp phù hợp với điều kiện từng gia đình, từ phát triển sản xuất, tạo việc làm đến bảo đảm an sinh xã hội.

Người vượt qua thất bại, mở hướng thoát nghèo cho đồng bào vùng cao

Người vượt qua thất bại, mở hướng thoát nghèo cho đồng bào vùng cao

TPO - Từng mất trắng hàng tỷ đồng vì thiên tai, anh Lưu Tùng Định, Giám đốc HTX Nông Xanh (xã Vân Hồ, Sơn La) vẫn kiên trì gây dựng mô hình nông nghiệp công nghệ cao. Những “mái nhà xanh” không chỉ mang lại nông sản an toàn mà còn tạo việc làm, thu nhập, mở hướng thoát nghèo cho người dân địa phương.

Mạnh dạn đổi hướng, chàng trai 9X phát triển kinh tế từ măng tre tứ quý

Mạnh dạn đổi hướng, chàng trai 9X phát triển kinh tế từ măng tre tứ quý

TPO - Với số vốn ban đầu chỉ 8 triệu đồng, anh Lương Văn Sơn đã mạnh dạn thử sức với mô hình trồng tre tứ quý lấy măng. Từ những gốc tre trồng thử nghiệm ban đầu, mô hình từng bước mang lại nguồn thu nhập cho gia đình, mở ra hướng phát triển kinh tế mới ở xã vùng sâu tỉnh Đắk Lắk.