Trở về quê tìm hướng lập nghiệp
Sinh ra và lớn lên ở vùng quê còn nhiều khó khăn, Bùi Thanh Tùng (32 tuổi, Giám đốc Hợp tác xã Nông, Lâm nghiệp xã Ngọc Sơn; Trưởng xóm Cối Cáo, xã Ngọc Sơn, tỉnh Phú Thọ) sớm thấu hiểu những nhọc nhằn của cuộc sống dựa vào đồng ruộng. Sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự, anh học nghề cơ khí rồi lần lượt xuống Bắc Ninh, vào TP Hồ Chí Minh làm việc.
Những năm tháng bươn chải giúp Tùng tích lũy kinh nghiệm, vốn sống và bản lĩnh tự lập. Tuy nhiên, càng đi nhiều, anh càng nhận ra quê hương vẫn còn những tiềm năng nông nghiệp chưa được khai thác tương xứng. Người dân có đất sản xuất, có kinh nghiệm trồng trọt, chăn nuôi nhưng việc tiêu thụ sản phẩm phần lớn vẫn nhỏ lẻ, phụ thuộc vào thương lái. Không ít thời điểm, nông sản đến kỳ thu hoạch nhưng chưa tìm được đầu ra phù hợp, khiến công sức sản xuất của người dân chưa mang lại hiệu quả như mong muốn.
Tùng nhận thấy, khó khăn của người nông dân không chỉ nằm ở điều kiện sản xuất mà còn ở khả năng tiếp cận thị trường. Có sản phẩm nhưng không biết bán cho ai, bán ở đâu, sản lượng bao nhiêu và sản xuất thế nào để đáp ứng nhu cầu người mua. Nếu giải quyết được bài toán này, những sản vật sẵn có tại địa phương hoàn toàn có thể trở thành nguồn thu nhập ổn định hơn cho người dân.
“Tôi thấy nhiều thanh niên phải rời quê đi làm ăn xa, trong khi ở địa phương có không ít sản phẩm nông nghiệp có tiềm năng. Tuy nhiên, việc tiêu thụ còn khó khăn, người dân chủ yếu sản xuất rồi chờ thương lái đến mua. Nếu có đầu mối thu gom, kết nối thị trường, sản phẩm sẽ có thêm cơ hội tiêu thụ”, Tùng chia sẻ.
Từ suy nghĩ đó, anh quyết định trở về quê lập nghiệp. Năm 2023, được sự động viên của lãnh đạo địa phương, Tùng thành lập Hợp tác xã Nông, Lâm nghiệp xã Ngọc Sơn. Những ngày đầu hoạt động, khó khăn đặt ra không ít, từ lựa chọn sản phẩm, tổ chức sản xuất đến tìm kiếm khách hàng và xây dựng thị trường tiêu thụ.
Thay vì chỉ tập trung sản xuất rồi mới tìm nơi bán, Tùng xác định phải gắn hoạt động của hợp tác xã với nhu cầu thị trường ngay từ đầu. Đây cũng là hướng đi xuyên suốt trong quá trình xây dựng mô hình: lựa chọn những sản phẩm có lợi thế tại địa phương, tổ chức sản xuất phù hợp, đồng thời chủ động tìm kiếm đầu ra.
Hợp tác xã từng bước triển khai nhiều hoạt động, từ trồng rau trong nhà màng, nấu rượu men lá truyền thống đến chăn nuôi vịt cổ xanh, nuôi gà theo quy trình sinh học. Trong đó, sản phẩm vịt cổ xanh đã được công nhận đạt chuẩn OCOP 3 sao cấp tỉnh, tạo thêm điều kiện để sản phẩm địa phương tiếp cận thị trường.
Đến nay, hợp tác xã có 13 thành viên. Trên cương vị Giám đốc, Tùng vừa tổ chức sản xuất, vừa chủ động kết nối với các hộ dân, tìm kiếm những sản phẩm có lợi thế để thu mua, sơ chế và tiêu thụ.
Với anh, thành lập hợp tác xã không đơn thuần là tạo dựng một cơ sở sản xuất kinh doanh cho riêng mình. Điều quan trọng hơn là hình thành đầu mối liên kết, giúp người dân có thêm kênh tiêu thụ sản phẩm, từng bước thay đổi cách làm nông nghiệp từ sản xuất nhỏ lẻ sang chủ động hơn trong việc tìm kiếm thị trường.
Khơi thông đầu ra cho sản vật quê nhà
Điểm đáng chú ý trong cách làm của Tùng là không bó hẹp hoạt động hợp tác xã ở những sản phẩm do đơn vị trực tiếp sản xuất. Anh chủ động khảo sát sản vật sẵn có tại địa phương, tìm hiểu nhu cầu tiêu thụ để mở rộng liên kết với các hộ dân.
Bên cạnh vịt cổ xanh, hợp tác xã phát triển và thu mua nhiều sản phẩm như lá giang, lá dâu phục vụ nuôi tằm, chuối tiêu hồng, bí và các loại rau theo mùa. Mỗi sản phẩm có đặc điểm, thời điểm thu hoạch và thị trường tiêu thụ riêng, đòi hỏi cách tổ chức sản xuất linh hoạt.
Trong số đó, lá giang là một ví dụ về cách hợp tác xã tìm hướng nâng cao giá trị cho nông sản địa phương. Trước đây, người dân chủ yếu tự trồng, thu hái rồi chờ thương lái hoặc khách hàng đến mua. Việc tiêu thụ phụ thuộc nhiều vào nhu cầu của người mua nên thu nhập thiếu ổn định.
Nhận thấy khó khăn này, Tùng đứng ra tổ chức thu gom, sơ chế, sấy khô và tìm kiếm đầu ra cho sản phẩm. Thay vì chỉ bán sản phẩm tươi theo từng thời điểm, việc sơ chế giúp lá giang có thêm phương thức bảo quản, thuận lợi hơn trong quá trình tiêu thụ.
“Với cây lá giang, người dân tự trồng, thu hái rồi chờ thương lái hoặc khách hàng đến thu mua. Việc tiêu thụ phụ thuộc vào nhu cầu của người mua nên thu nhập không ổn định. Nhận thấy khó khăn đó, hợp tác xã đứng ra thu gom, sơ chế, sấy khô và tìm kiếm đầu ra, nâng cao giá trị sản phẩm”, Tùng chia sẻ.
Từ một loại nông sản vốn được tiêu thụ nhỏ lẻ, lá giang từng bước có thêm kênh kết nối thị trường. Người dân không còn hoàn toàn phụ thuộc vào việc chờ khách đến mua mà có thêm đầu mối thu gom, tiêu thụ. Dù chưa thể tạo ra thay đổi lớn ngay lập tức, cách làm này góp phần tháo gỡ một trong những khó khăn lâu nay của sản xuất nông nghiệp, đó là đầu ra cho sản phẩm.
Với chuối tiêu hồng, hợp tác xã từng bước phát triển vùng trồng, tận dụng nhu cầu tiêu thụ theo mùa, nhất là dịp Tết. Một số loại bí địa phương có đặc điểm thịt dẻo, phù hợp chế biến món ăn cũng được chú trọng phát triển. Sản phẩm bước đầu tìm được thị trường tại khu du lịch Thác Mu, được một số cơ sở homestay lựa chọn làm nguyên liệu phục vụ du khách.
Không chỉ tìm kiếm đầu ra tại địa phương, Tùng còn chủ động mở rộng thị trường thông qua các kênh trực tuyến. Nếu trước đây việc tiêu thụ chủ yếu theo phương thức truyền thống thì nay sản phẩm của hợp tác xã được giới thiệu trên mạng xã hội, thông qua livestream và các kênh bán hàng trực tuyến.
Riêng sản phẩm vịt cổ xanh từng được cung cấp cho một số khách sạn, khu nghỉ dưỡng tại Hà Nội. Việc kết nối với những khách hàng ngoài địa phương mở ra cơ hội tiếp cận thị trường rộng hơn, đồng thời đặt ra yêu cầu về chất lượng và khả năng cung ứng sản phẩm.
Để thích ứng với nhu cầu tiêu thụ, kế hoạch sản xuất cũng được điều chỉnh theo mùa vụ. Mùa hè, khi nhu cầu tiêu thụ thịt vịt tại các khu du lịch tăng, hợp tác xã tập trung phát triển nguồn cung. Mùa đông, khi nhu cầu giảm, các thành viên chuyển hướng sang cây trồng khác, trong đó có chuối tiêu hồng để chuẩn bị hàng phục vụ dịp Tết. Riêng lá giang được duy trì sản xuất quanh năm.
Việc đa dạng hóa sản phẩm, chủ động tìm kiếm thị trường và tổ chức sản xuất theo nhu cầu tiêu thụ giúp hợp tác xã từng bước mở rộng hoạt động liên kết. Với người dân, đây là cơ hội để có thêm đầu ra cho nông sản, chủ động hơn trong sản xuất và giảm bớt sự phụ thuộc vào những kênh tiêu thụ truyền thống.
Thêm cơ hội tăng thu nhập cho người dân
Hiệu quả của mô hình không chỉ được nhìn nhận qua hoạt động sản xuất, kinh doanh của hợp tác xã mà còn ở cơ hội tiêu thụ sản phẩm và cải thiện thu nhập của những hộ dân tham gia liên kết.
Anh Bùi Văn Thọ, người dân xóm Cối Cáo, là một trong những hộ bước đầu có thu nhập ổn định hơn nhờ liên kết với hợp tác xã. Trước đây, gia đình anh chủ yếu tự tổ chức sản xuất, đến kỳ thu hoạch thì chờ thương lái đến mua. Có những đợt không có người thu mua, nông sản bị hư hỏng, công sức và chi phí bỏ ra khó thu hồi.
Từ khi tham gia liên kết, sản phẩm của gia đình có thêm đầu mối tiêu thụ thông qua hợp tác xã. Việc thu mua giúp gia đình chủ động hơn trong sản xuất, giảm bớt nỗi lo về đầu ra và có thêm nguồn thu phục vụ sinh hoạt.
Theo anh Thọ, nhờ việc tiêu thụ các loại nông sản, thu nhập của gia đình đạt khoảng 5 triệu đồng mỗi tháng. Đây là khoản thu có ý nghĩa đối với những hộ dân còn gặp khó khăn trong phát triển kinh tế, nhất là khi sản xuất nông nghiệp vẫn chịu tác động của mùa vụ và nhu cầu thị trường.
“Trước đây, có những lúc nông sản đến kỳ thu hoạch nhưng không có người mua, gia đình rất sốt ruột. Khi liên kết với hợp tác xã, sản phẩm có thêm đầu ra, việc sản xuất cũng chủ động hơn”, anh Thọ chia sẻ.
Từ câu chuyện của gia đình anh Thọ có thể thấy, giá trị của mô hình không chỉ nằm ở việc tìm được thị trường cho một vài sản phẩm mà còn ở cách tổ chức lại hoạt động sản xuất, tiêu thụ. Người dân có thể tập trung vào công việc trồng trọt, chăn nuôi theo điều kiện gia đình, trong khi hợp tác xã đảm nhận thêm vai trò thu gom, sơ chế và kết nối khách hàng.
Cách làm này giúp giảm bớt một khâu khó đối với các hộ sản xuất nhỏ lẻ. Thay vì mỗi gia đình tự tìm kiếm người mua, hợp tác xã trở thành đầu mối kết nối, tạo thêm cơ hội để sản phẩm được tiêu thụ thuận lợi hơn.
Không chỉ những hộ liên kết, bản thân Tùng cũng từng bước ổn định cuộc sống nhờ hướng đi đã lựa chọn. Từ một thanh niên xuất thân trong gia đình nông dân nghèo, anh xây dựng hoạt động sản xuất, kinh doanh ngay trên quê hương, với thu nhập gia đình bình quân khoảng 20 triệu đồng mỗi tháng.
Tuy nhiên, điều Tùng hướng đến không chỉ là phát triển kinh tế của riêng mình. Anh mong muốn hợp tác xã trở thành nơi kết nối những hộ có đất sản xuất, có kinh nghiệm nhưng còn thiếu đầu ra, qua đó tạo thêm cơ hội để người dân cải thiện thu nhập.
“Thoát nghèo không chỉ là hỗ trợ trước mắt mà quan trọng hơn là tạo điều kiện để người dân có việc làm, có sinh kế và chủ động tạo ra thu nhập. Ở góc độ đó, mô hình hợp tác xã góp phần giải quyết một trong những khó khăn của kinh tế nông thôn: kết nối sản xuất với thị trường, biến sản vật sẵn có thành hàng hóa có giá trị”, Tùng cho hay.
Hướng đến nâng cao giá trị nông sản
Từ những kết quả bước đầu, Hợp tác xã Nông, Lâm nghiệp xã Ngọc Sơn đang hướng đến mục tiêu nâng cao giá trị sản phẩm thông qua sơ chế, chế biến sâu. Theo Tùng, nếu chỉ tiêu thụ nông sản thô, giá trị kinh tế mang lại còn hạn chế. Trong khi đó, việc nghiên cứu chế biến có thể mở thêm hướng tiêu thụ và tận dụng tốt hơn nguồn nguyên liệu tại địa phương.
Một số ý tưởng đang được hợp tác xã nghiên cứu như chế biến ngô thành bỏng ngô để bán dưới dạng thành phẩm, phát triển trà thảo dược từ lá ổi. Trong đó, sản phẩm trà lá ổi hiện vẫn ở giai đoạn nghiên cứu, thử nghiệm.
Bên cạnh hoạt động nông nghiệp, hợp tác xã còn hướng tới phát triển những nghề thủ công truyền thống như dệt và đan lát, nhằm tận dụng nguồn nguyên liệu, lao động tại chỗ và mở rộng cơ hội việc làm cho người dân, nhất là những hộ còn khó khăn.
Theo anh Bùi Năng Khiếu, Bí thư Đoàn xã Ngọc Sơn, mô hình của Tùng đang phát huy hiệu quả, trở thành một điển hình để đoàn viên, thanh niên trong xã học tập, làm theo, vươn lên phát triển kinh tế ngay trên quê hương.
Từ quyết định trở về quê lập nghiệp, Bùi Thanh Tùng đang từng bước xây dựng một hướng đi gắn lợi ích kinh tế của hợp tác xã với người dân địa phương. Con đường phía trước vẫn còn những thách thức về quy mô sản xuất, chất lượng sản phẩm và khả năng duy trì thị trường. Tuy nhiên, việc chủ động tìm đầu ra, kết nối các hộ dân và khai thác những sản vật sẵn có đã mở thêm hướng phát triển kinh tế cho vùng quê.
Anh Tùng đã mạnh dạn phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất nông sản sạch, chú trọng sử dụng phân bón hữu cơ, hạn chế thuốc bảo vệ thực vật; đồng thời chủ động tìm kiếm thị trường, kết nối tiêu thụ sản phẩm. Việc ứng dụng chuyển đổi số, sử dụng mạng xã hội và livestream quảng bá nông sản cũng mở ra phương thức tiêu thụ mới, giúp sản phẩm tiếp cận khách hàng thuận lợi hơn”, anh Khiếu nói.