Hươu sao (Cervus nippon) là một trong những loài thú móng guốc đẹp của Việt Nam với bộ lông màu nâu vàng hoặc nâu đỏ, trên mình nổi bật nhiều đốm trắng như những ngôi sao, tạo nên vẻ ngoài thanh thoát và là nguồn gốc của tên gọi "Hươu sao". Trên thế giới, loài này được ghi nhận tại Trung Quốc, Nga, Hàn Quốc và Nhật Bản.
Hươu sao thường sống thành từng đàn ở những cánh rừng thưa trên núi đất với tập tính hiền lành, nhanh nhẹn. Chúng giữ vai trò quan trọng trong hệ sinh thái rừng khi tham gia phát tán hạt giống và duy trì cân bằng tự nhiên.
Tại Việt Nam, Hươu sao từng phân bố khá rộng ở nhiều địa phương, nhưng do mất sinh cảnh và nạn săn bắt, từ năm 1990 đến nay, loài này không còn được ghi nhận ngoài tự nhiên. Danh lục đỏ Việt Nam xếp loài vào nhóm tuyệt chủng ngoài tự nhiên, cùng với Cá sấu hoa cà, Gà lôi lam mào trắng và Tê giác một sừng.
Tuy nhiên, loài vẫn được nuôi ở một số địa phương như Cao Bằng, Hải Phòng, Ninh Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh và một số tỉnh phía Nam.
Trong kế hoạch tái thả quy mô lớn lần này nhằm hồi phục hệ sinh thái, Vườn quốc gia Cúc Phương sẽ thả về vùng lõi khoảng 60 cá thể Hươu sao và Nai theo lộ trình từng bước. Đợt đầu tiên dự kiến thực hiện vào ngày 29/6 với 19 cá thể, gồm 9 hươu sao và 10 nai.
Các ghi nhận trước đây cho thấy, Vườn quốc gia Cúc Phương từng là nơi sinh sống của hai loài thú này. Để “hồi sinh” loài Hươu sao ngoài tự nhiên, toàn bộ các cá thể được lựa chọn trải qua quá trình đánh giá nghiêm ngặt về sức khỏe, nguồn gen, hành vi và khả năng thích nghi với môi trường tự nhiên.
Sau khi được tái thả, các cá thể sẽ được theo dõi liên tục thông qua vòng cổ định vị GPS, thiết bị VHF, hệ thống bẫy ảnh cùng các phương pháp giám sát sinh học hiện đại.
Công tác theo dõi tập trung đánh giá khả năng thích nghi, phạm vi hoạt động, tập tính kiếm ăn, tình trạng sức khỏe, khả năng sinh sản và mức độ hòa nhập của các cá thể trong điều kiện tự nhiên.
Theo ông Nguyễn Văn Chính, Giám đốc Vườn quốc gia Cúc Phương, với kế hoạch tái thả lần này, Cúc Phương không chỉ hướng tới bảo vệ những giá trị thiên nhiên hiện có mà còn chủ động khôi phục những hệ sinh thái và quần thể động vật hoang dã đã suy giảm.
"Chúng tôi kỳ vọng chương trình sẽ trở thành mô hình mẫu cấp quốc gia về cứu hộ, phục hồi, tái hoang dã và tái lập quần thể động vật hoang dã; qua đó chia sẻ kinh nghiệm, quy trình và các bài học thực tiễn cho hệ thống vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên trên cả nước", ông Chính chia sẻ.
Tại Việt Nam cũng từng có một mô hình tái thả về tự nhiên rất thành công là mô hình đưa cá sấu Xiêm (Crocodylus siamensis) về khu vực Bàu Sấu, Vườn quốc gia Cát Tiên.
Loài này cũng từng phân bố rộng khắp ở Việt Nam nhưng nạn săn bắt quá mức và môi trường sống bị thu hẹp khiến loài bò sát quý hiếm này gần như biến mất hoàn toàn khỏi tự nhiên vào cuối thế kỷ XX.
Từ đầu những năm 2000, các chuyên gia trong nước và quốc tế đã phối hợp triển khai chương trình nhân nuôi, phục hồi và tái thả cá sấu Xiêm về khu vực Bàu Sấu – vùng đầm lầy rộng lớn được đánh giá là sinh cảnh phù hợp nhất còn lại của loài.
Sau hơn hai thập kỷ kiên trì, quần thể cá sấu Xiêm tại Bàu Sấu đã từng bước phục hồi, với nhiều cá thể sinh sản thành công trong tự nhiên.
Ngày nay, Bàu Sấu được xem là nơi duy nhất ở Việt Nam còn duy trì quần thể cá sấu Xiêm hoang dã sinh sản ổn định, trở thành biểu tượng cho nỗ lực gìn giữ thiên nhiên và khôi phục hệ sinh thái đất ngập nước của quốc gia.