Quy mô hàng tỷ USD và còn nhiều dư địa mở rộng
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi xanh, kinh tế sinh học (bio-economy) đang vươn lên trở thành một trụ cột chiến lược cốt lõi định hình lại mô hình tăng trưởng của nhiều quốc gia. Không chỉ dừng lại ở các nghiên cứu hàn lâm trong phòng thí nghiệm, công nghệ sinh học (CNSH) ngày nay đã biến đổi thành lực lượng sản xuất trực tiếp, mang lại giá trị kinh tế khổng lồ thông qua y sinh học hiện đại, nông nghiệp thông minh, dược liệu thiên nhiên và vật liệu sinh học thay thế.
Theo báo cáo từ các tổ chức quốc tế như OECD và Diễn đàn Kinh tế Sinh học Thế giới, quy mô nền kinh tế sinh học toàn cầu hiện đạt khoảng 5 nghìn tỉ USD, và dự báo sẽ tăng trưởng vượt bậc hướng tới mốc 30 nghìn tỉ USD vào giữa thế kỷ 21 (năm 2050), chiếm gần một phần ba giá trị kinh tế toàn cầu. Tại nhiều quốc gia tiên tiến ở Châu Âu và Bắc Mỹ, kinh tế sinh học đã đóng góp từ 10% đến hơn 20% vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP).
Đối với Việt Nam, khu vực nông - lâm - thủy sản đóng góp 11% - 12% trong tổng GDP khoảng 514 tỷ USD, đóng vai trò nền tảng vững chắc cho sự phát triển của kinh tế sinh học nông nghiệp và dược liệu. Theo các định hướng chiến lược quốc gia, Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2045, ngành công nghiệp sinh học sẽ đóng góp từ 10% đến 15% vào tổng GDP cả nước.
Mặc dù Việt Nam sở hữu nguồn tài nguyên sinh học phong phú, đội ngũ nghiên cứu tại các Viện, Trường đại học đã làm chủ nhiều công nghệ nền tảng (công nghệ gen, nuôi cấy mô, lên men vi sinh, vaccine), song nhiều vướng mắc còn đang tồn tại khiến không ít kết quả nghiên cứu mới chỉ “chôn chân” trong phòng nghiên cứu và chưa quá nổi bật khi trở thành sản phẩm thương mại mạnh trên thị trường.
Tại Hội thảo chuyên đề “Kinh tế sinh học và Thương mại hoá công nghệ sinh học: Đồng lực tăng trưởng mới trong kỷ nguyên số” (Hội thảo), các chuyên gia đã chỉ ra những điểm thiếu sót chủ đạo gồm thiếu định nghĩa và chuẩn đo lường tỉ lệ đóng góp của kinh tế sinh học vào GDP; E ngại rủi ro pháp lý của các viện nghiên cứu công lập khi đưa tài sản trí tuệ ra thị trường; đứt gãy kết nối cung - cầu công nghệ trong nước; thiếu nguồn vốn đầu tư mạo hiểm giai đoạn ươm tạo.
Hội thảo do Cục Thông tin và Thống kê (NASTIS) và Hội Thông tin Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASTI) chủ trì, nhằm thúc đẩy kết nối nguồn lực khoa học và công nghệ (KH&CN) sinh học với thị trường, tháo gỡ các điểm nghẽn trong định giá, chuyển giao và thương mại hóa tài sản trí tuệ. Hội thảo nằm trong khuôn khổ Chợ công nghệ và thiết bị (Techmart 2026).
Góp những chỉ số đo lường vượt ngoài GDP
TS Trần Văn Tùng, Chủ tịch Hội Thông tin Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASTI), trước đây, quá trình nghiên cứu và phát triển (R&D) trong ngành sinh học thường kéo dài hàng thập kỷ với chi phí đắt đỏ và tỷ lệ rủi ro cao.
Giờ đây, khi công nghệ sinh học kết hợp cùng Trí tuệ nhân tạo (AI), Dữ liệu lớn (Big Data), Điện toán đám mây và Chuỗi khối (Blockchain), chúng ta đang chứng kiến sự ra đời của khái niệm “Sinh học kỹ thuật số”. Sự giao thoa này không chỉ tăng tốc quá trình sáng tạo mà còn hạ thấp rào cản đưa các phát minh, các sáng chế sinh học vào đời sống thực tiễn.
Đặc biệt, sự hội tụ giữa công nghệ sinh học và kỉ nguyên số đang tạo ra những bước nhảy vọt chưa từng có. Đến nay, công nghệ sinh học đang được ứng dụng vào rất nhiều sản phẩm và dịch vụ đa dạng. Ngoài những lĩnh vực truyền thống như y – dược; chế biến nông sản, thực phẩm, công nghệ sinh học thậm chí được ứng dụng cả vào giải trí và thời trang.
Cùng tại Hội thảo, PGS.TS Huỳnh Thành Đạt, Phó trưởng ban Tuyên giáo Trung ương đánh giá nền kinh tế sinh học không chỉ là câu chuyện từ một ngành công nghệ hoặc từ lĩnh vực sản xuất, mà là một xu thế mang tính chất toàn cầu về quy mô cũng như về tác động tích cực của nó. Nghị quyết số 36 ngày 30/1/2023 của Bộ Chính trị về "Phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ phát triển bền vững đất nước trong tình hình mới" đã xác lập những định hướng quan trọng đối với lĩnh vực này.
Trong bối cảnh phát triển đất nước hiện nay, yêu cầu đặt ra là phải chuyển những định hướng chiến lược thành năng lực sản xuất, thành công nghệ, thành sản phẩm và tạo ra giá trị kinh tế thực chất, cụ thể.
PGS.TS Huỳnh Thành Đạt nhấn mạnh, công nghệ sinh học có tiềm năng ứng dụng rất rộng lớn trong nông nghiệp, y dược, chế biến thực phẩm, bảo vệ môi trường và nhiều lĩnh vực liên quan khác. Tuy nhiên, tiềm năng công nghệ không tự động chuyển thành giá trị kinh tế. Khoảng cách từ kết quả nghiên cứu trong phòng thí nghiệm đến sản phẩm được thị trường chấp nhận vẫn là một thách thức không nhỏ cần phải được giải quyết.
Do đó, PGS.TS Huỳnh Thành Đạt cho rằng ngay tại Hội thảo, các chuyên gia, nhà khoa học cần làm rõ vai trò của công nghệ sinh học đối với mô hình tăng trưởng mới. Kinh tế sinh học mở ra khả năng khai thác hiệu quả các nguồn tài nguyên sinh học, kết hợp tri thức khoa học công nghệ hiện đại để tạo ra sản phẩm có giá trị gia tăng cao, góp phần phát triển kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn.
Để nhìn nhận đầy đủ tiềm năng này, cần quan tâm đo lường đóng góp của công nghệ sinh học đối với tăng trưởng GDP nói riêng và nền kinh tế nói chung.
Qua đó, đánh giá rõ hơn các giá trị mà nó tạo ra trong các khâu nghiên cứu, sản xuất, chế biến và thương mại hóa. Đồng thời, cần đẩy mạnh truyền thông khoa học, giới thiệu những mô hình ứng dụng hiệu quả, giúp doanh nghiệp và người dân hiểu rõ hơn về cơ hội phát triển, lợi ích cũng như yêu cầu về chất lượng, an toàn sinh học và môi trường. Thứ hai, cần tạo sự gắn kết chặt chẽ, tương hỗ giữa nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và nhu cầu của thị trường.
Theo ông Bùi Duy Nghĩa, Trưởng phòng thống kê KH&CN, Viện Thống kê và Đánh khoa học (Cục Thông tin, Thống kê và Đánh giá khoa học), công nghệ sinh học không chỉ dừng lại ở những chỉ số tuyệt đối thể hiện qua GDP mà còn có tính bền vững rất lớn.
Theo đó, những chỉ số có thể đo đếm như tạo ra ngành mới (trực tiếp); tăng năng suất, ví dụ như cải thiện hiệu suất trong các ngành truyền thống (giống cây kháng sâu bệnh làm tăng thêm hàng tỷ USD cho nông dân.
Về hiệu quả gián tiếp, ngành này kích thích chuỗi cung ứng và hạ nguồn thông qua hệ số nhân. Thay thế ròng vật liệu hoá thạch bằng vật liệu sinh học (như nhựa sinh học, nhiên liệu sinh học). Bên cạnh đó, tính chất phi thị trường rất cần được nhắc tới khi lợi ích phúc lợi xã hội, môi trường, giảm phát thải mà không phản ánh hết trên GDP.