Ngày 4/11, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) họp báo thông tin về việc điều chỉnh giá điện bán lẻ.
Theo Quyết định số 2892/QĐ-BCT ngày 31/10/2026 của Bộ Công Thương, giá bán lẻ điện cho các nhóm khách hàng được điều chỉnh từ ngày 1/11, trên cơ sở mức giá bán lẻ điện bình quân mới là 2.159,9 đồng/kWh, giảm 2% so với trước.
Đáng chú ý, biểu giá điện sinh hoạt được chuyển từ 6 bậc sang 5 bậc theo cơ cấu quy định tại Quyết định số 14/2025/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
Cụ thể, bậc 1 áp dụng cho 100 kWh đầu tiên, với giá 1.901 đồng/kWh; bậc 2 từ kWh thứ 101 đến 200, giá 2.289 đồng/kWh; bậc 3 từ kWh thứ 201 đến 400, giá 2.894 đồng/kWh; bậc 4 từ kWh thứ 401 đến 700, giá 3.456 đồng/kWh; bậc 5 từ kWh thứ 701 trở lên, giá 3.844 đồng/kWh. Các mức giá trên chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng.
Theo bảng tính toán tác động của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), việc giảm giá điện bình quân kết hợp thay đổi biểu giá bậc thang khiến mức tiền điện của các hộ gia đình có sự khác biệt đáng kể.
Với cùng mức tiêu thụ 100 kWh/tháng, tiền điện giảm từ 201.700 đồng xuống 190.100 đồng, tương đương giảm 11.600 đồng. Hộ sử dụng 200 kWh/tháng giảm 20.700 đồng, trong khi hộ sử dụng 300 kWh giảm 31.100 đồng.
Nhóm sử dụng từ 400-700 kWh/tháng được giảm khoảng 76.700-77.900 đồng. Tuy nhiên, mức giảm bắt đầu thu hẹp khi lượng điện tiêu thụ tăng cao. Hộ sử dụng 800 kWh/tháng chỉ giảm 39.500 đồng, còn hộ sử dụng 900 kWh giảm khoảng 1.100 đồng.
Đáng chú ý, với lượng điện tiêu thụ không đổi ở mức 1.000 kWh/tháng, tiền điện tăng từ 3.150.500 đồng lên 3.187.800 đồng, tương đương tăng 37.300 đồng. Hộ sử dụng 2.000 kWh/tháng phải trả 7.031.800 đồng, tăng 421.300 đồng so với trước, tương đương khoảng 6,4%.
Như vậy, dù giá điện bình quân giảm 2%, việc thay đổi cơ cấu biểu giá khiến một số hộ sử dụng nhiều điện vẫn phải trả thêm tiền ngay cả khi lượng điện tiêu thụ không thay đổi.
Theo số liệu của EVN, cả nước có khoảng 29,37 triệu hộ sử dụng điện sinh hoạt được thống kê trong bảng đánh giá tác động. Trong đó, nhóm tiêu thụ 100-200 kWh/tháng chiếm tỷ trọng lớn nhất.
Bên cạnh điện sinh hoạt, Quyết định 2892 cũng quy định mức giá cụ thể đối với các nhóm khách hàng sản xuất, kinh doanh, hành chính sự nghiệp, cơ sở lưu trú du lịch và trạm sạc xe điện.
Đối với điện sản xuất ở cấp điện áp từ 220 kV trở lên, giá bán điện giờ bình thường là 1.771 đồng/kWh, giờ thấp điểm 1.101 đồng/kWh và giờ cao điểm 3.110 đồng/kWh.
Ở cấp điện áp đến 1 kV, giá điện sản xuất giờ bình thường là 1.966 đồng/kWh, giờ thấp điểm 1.274 đồng/kWh và giờ cao điểm 3.586 đồng/kWh.
Đối với các cơ sở kinh doanh khác sử dụng điện hạ áp đến 1 kV, giá giờ bình thường là 3.089 đồng/kWh, giờ thấp điểm 1.880 đồng/kWh và giờ cao điểm lên tới 5.313 đồng/kWh.
Riêng trạm sạc xe điện sử dụng điện hạ áp đến 1 kV, giá bán điện giờ bình thường là 2.700 đồng/kWh, giờ thấp điểm 1.620 đồng/kWh và giờ cao điểm 4.212 đồng/kWh.
Việc áp dụng biểu giá mới cùng sự chênh lệch giữa các khung giờ sử dụng điện đặt ra yêu cầu đối với doanh nghiệp trong việc bố trí hoạt động sản xuất, kinh doanh phù hợp để kiểm soát chi phí.
Đợt điều chỉnh lần này không chỉ thay đổi mức giá bán lẻ điện mà còn làm thay đổi cách phân bổ tiền điện giữa các nhóm khách hàng. Vì vậy, mức giảm giá điện bình quân 2% không đồng nghĩa hóa đơn của tất cả khách hàng đều giảm tương ứng.