Kinh tế 10 tháng tiếp tục khởi sắc
Sáng 3/11, Cục Thống kê - Bộ Tài chính công bố báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 10 và 10 tháng năm nay, ghi nhận nhiều dấu mốc đáng chú ý. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa lần đầu vượt mốc 1.000 tỷ USD, tăng trên 32% so với cùng kỳ năm trước.
Sản xuất công nghiệp tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực. Tính chung 10 tháng, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 12,4%, mức cao nhất trong cùng kỳ nhiều năm trở lại đây. Ngành chế biến, chế tạo vẫn là động lực chính, cho thấy hoạt động sản xuất đang có sự phục hồi và mở rộng.
Thu hút FDI cũng là điểm sáng. Tổng vốn FDI đăng ký vào Việt Nam đạt gần 54,8 tỷ USD, tăng 74% so với cùng kỳ và cao nhất kể từ năm 2009. Vốn FDI thực hiện đạt hơn 24 tỷ USD, tăng 13,1%, mức cao nhất trong cùng kỳ 5 năm qua.
Ở trong nước, giải ngân vốn đầu tư công tiếp tục được đẩy mạnh, đạt khoảng 69% kế hoạch năm. Hoạt động bán lẻ và dịch vụ tiêu dùng cũng duy trì mức tăng trưởng khá, góp phần hỗ trợ tổng cầu.
Tuy nhiên, bức tranh kinh tế không chỉ có gam màu sáng. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân 10 tháng tăng 4,57% so với cùng kỳ. Đây là yếu tố có thể tạo thêm sức ép trong những tháng cuối năm, khi nhu cầu sản xuất và tiêu dùng thường tăng cao.
Hai tháng cuối năm quyết định mục tiêu tăng trưởng
Về tình hình kết quả kinh tế 10 tháng, PGS, TS. Nguyễn Thường Lạng - giảng viên cao cấp Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân - cho rằng đây là những tín hiệu rất lạc quan. Đáng chú ý, kim ngạch xuất nhập khẩu chỉ sau 10 tháng đã vượt mức thực hiện của cả năm 2025.
Theo ông Lạng, các động lực tăng trưởng đang phát huy hiệu quả, trong đó có vai trò thúc đẩy đầu tư công, hỗ trợ đầu tư tư nhân và giảm chi phí đầu vào cho doanh nghiệp, người dân. Đầu tư công không chỉ trực tiếp bổ sung nguồn lực cho nền kinh tế mà còn tạo hiệu ứng lan tỏa tới khu vực tư nhân. Khi các dự án hạ tầng được triển khai, cơ hội kinh doanh và đầu tư cũng được mở rộng.
Bên cạnh đó, 19,5 triệu lượt khách quốc tế đến Việt Nam là yếu tố hỗ trợ tổng cầu, tạo thêm cơ hội cho các ngành dịch vụ, du lịch, vận tải và tiêu dùng.
Về áp lực lạm phát, chuyên gia cho rằng, các giải pháp giảm giá điện, giảm thuế đối với xăng dầu có tác động trực tiếp đến chi phí sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt. Cùng với đó, việc giảm lãi suất và thực hiện chính sách hỗ trợ thuế đối với doanh nghiệp quy mô nhỏ góp phần giảm gánh nặng chi phí, tạo thêm dư địa cho hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Theo ông Lạng, khi chi phí điện, nhiên liệu và vốn vay được tiết giảm, doanh nghiệp có điều kiện duy trì, mở rộng sản xuất; người dân cũng có thêm dư địa chi tiêu. Đây là những yếu tố có thể hỗ trợ tăng trưởng trong giai đoạn cuối năm.
Với các động lực trên, ông Lạng cho rằng, Việt Nam có cơ sở để kỳ vọng vừa kiểm soát lạm phát trong giới hạn đề ra, vừa tiến gần mục tiêu tăng trưởng hai con số. Chuyên gia dự báo, lạm phát cả năm có thể dưới 5%, thậm chí quanh 4,6%.
Theo PGS, TS. Bùi Quang Tuấn - Phó Chủ tịch Hội Khoa học kinh tế Việt Nam, nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, kinh tế Việt Nam ghi nhận những kết quả tích cực về tăng trưởng, xuất nhập khẩu và thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Đáng chú ý, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu lần đầu tiên vượt mốc 1.000 tỷ USD.
Tuy nhiên, thời gian tới có bốn kênh tác động chính mà Việt Nam vẫn cần theo dõi sát, gồm thương mại và xuất khẩu, lạm phát, dòng vốn FDI và các luồng vốn tài chính.
Cụ thể, xuất nhập khẩu tăng trưởng tích cực nhưng xu hướng nhập siêu quay trở lại là vấn đề cần quan tâm. Về lạm phát, áp lực có thể gia tăng trong quý IV khi hoạt động giải ngân đầu tư công được đẩy mạnh, kéo theo nhu cầu vốn và lượng tiền đưa vào nền kinh tế tăng lên.
Về thu hút và giải ngân FDI, theo ông Tuấn, dù vốn đăng ký tăng mạnh, cần phân biệt giữa vốn cam kết và vốn thực hiện, bởi chỉ khi được triển khai vào sản xuất, kinh doanh, dòng vốn này mới tạo ra tác động thực chất đối với nền kinh tế.
Đối với thị trường vốn trong nước, chuyên gia lưu ý khoảng cách giữa huy động và nhu cầu tín dụng có thời điểm lên tới 2-3 triệu tỷ đồng. Điều này tạo sức ép lên thanh khoản hệ thống ngân hàng và mặt bằng lãi suất.
PGS, TS. Bùi Quang Tuấn cũng lưu ý về sự phụ thuộc năng lượng vào nguồn cung bên ngoài khiến Việt Nam dễ bị ảnh hưởng khi xung đột địa chính trị kéo dài. Giá dầu tăng không chỉ làm tăng chi phí đầu vào của doanh nghiệp mà còn gây sức ép lên lạm phát và các cân đối vĩ mô.