Siết 'lạm phát điểm số' để nâng chất lượng cử nhân: Doanh nghiệp mong gì?

TPO - Sinh viên nhiều trường tốt nghiệp đại học đạt loại giỏi, xuất sắc, nhưng doanh nghiệp vẫn cần thời gian hướng dẫn về kỹ năng và quy trình làm việc. Trong khi Bộ GD&ĐT yêu cầu kiểm soát tình trạng “lạm phát điểm số”, doanh nghiệp cũng chỉ ra khoảng cách giữa kiến thức và khả năng làm việc của cử nhân mới ra trường.

Bộ GD&ĐT vừa yêu cầu các cơ sở giáo dục đại học kiểm soát thực chất kết quả học tập, xử lý tình trạng 'lạm phát điểm số' và xác minh đóng góp thực của người học khi sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI).

Theo khảo sát của PV Tiền Phong, tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp giỏi, xuất sắc tại một số trường kinh tế vượt 70%, trong khi ở các trường y khoa, kỹ thuật có sự khác biệt đáng kể. Đặc biệt, ở Trường Đại học Y Hà Nội, không có bất kỳ sinh viên nào tốt nghiệp loại xuất sắc trong hai năm 2025 và 2026.

Tại Đại học Kinh tế Quốc dân (NEU), trong đợt trao bằng tháng 8/2026 với hơn 5.700 sinh viên, tỷ lệ xuất sắc lên tới mức kỷ lục 51,2%, 36,3% đạt loại giỏi. Đáng nói, năm nay, trường có tới 17 em cùng tốt nghiệp với GPA tuyệt đối 4.0. Số sinh viên xếp loại khá chỉ 12,3% và trung bình 0,3%.

Lý giải về kết quả này, TS Lê Anh Đức, Trưởng ban Đào tạo của trường Đại học Kinh tế Quốc dân, cho biết với thang điểm 4, sinh viên đạt từ 8,5/10 điểm trở lên được tính là tuyệt đối. Ngoài ra chất lượng đầu vào của trường ngày càng tốt. Cùng đó, trường mở thêm nhiều ngành, chương trình so với trước.

Tại Học viện Tài chính, tổng tỷ lệ giỏi và xuất sắc đạt 72,44%. Tại Trường Đại học Ngoại thương, năm 2026, trong đợt tốt nghiệp sớm tháng 4, khoảng 30% trong tổng số 1.265 sinh viên đại học chính quy tốt nghiệp sớm nửa năm đạt loại xuất sắc. Đợt tháng 9/2026, tỷ lệ này trong hơn 1.700 sinh viên được trao bằng tại Hà Nội và Quảng Ninh vào khoảng 25%.

Năm 2026 Trường Đại học Y Hà Nội tiếp tục không ghi nhận sinh viên tốt nghiệp loại xuất sắc. Có 103 sinh viên đạt loại giỏi, chiếm 10,6%; 656 sinh viên đạt loại khá, chiếm 67,6%.

Có nên siết điểm đầu ra?

khi-thi-sinh-chon-trai-nghiem-thay-vi-chi-chon-danh-tieng.jpg
Ông Phạm Thái Sơn, Giám đốc Trung tâm Tuyển sinh và Truyền thông tại Trường Đại học Công Thương TP.HCM (HUIT)

Ông Phạm Thái Sơn, Giám đốc Trung tâm Tuyển sinh và Truyền thông tại Trường Đại học Công Thương TP.HCM (HUIT) cho rằng, không nên hiểu siết đầu ra đơn giản là ra đề khó hơn, chấm điểm chặt hơn để giảm số sinh viên giỏi, xuất sắc. Điều quan trọng hơn là phải xác định sinh viên tốt nghiệp cần có năng lực gì để đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động.

Ông Sơn cho rằng, muốn xây dựng chuẩn đầu ra đúng thì trước hết phải hiểu doanh nghiệp cần gì. Một vấn đề cần được nhìn nhận là doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) và doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME), .... có những yêu cầu tuyển dụng khác nhau. Nếu xây dựng chương trình đào tạo theo một hình mẫu chung, trường đại học có thể đào tạo tốt về lý thuyết nhưng chưa chắc đáp ứng được nhu cầu đa dạng của thị trường lao động.

"Đừng đặt mục tiêu trước là giảm tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp giỏi, xuất sắc đi, mà hãy xác định đúng nhu cầu doanh nghiệp, xây dựng chuẩn nghề nghiệp phù hợp và đánh giá đúng năng lực người học. Các trường đại học nên khảo sát từng loại hình doanh nghiệp và tổ chức xây dựng chương trình đào tạo, chuẩn đầu ra cho phù hợp”- ông Sơn cho hay.

Doanh nghiệp đánh giá chất lượng cử nhân thế nào?

Bà Nguyễn Thị Kim Ngân, Giám đốc Học thuật, BrainSTEM English Academy cho rằng, đã làm việc với khá nhiều sinh viên mới ra trường. Nếu nhìn một cách công bằng, bà không cho rằng sinh viên hiện nay yếu. Ngược lại, các bạn có nhiều lợi thế rõ rệt: tiếp cận thông tin nhanh, sử dụng công nghệ tốt, ngoại ngữ khá hơn, cởi mở với cái mới và khả năng tiếp thu nhanh. Nhiều bạn trẻ rất thông minh, năng động và có tiềm năng phát triển tốt.

Tuy nhiên, từ góc độ của người trực tiếp tuyển dụng và sử dụng lao động, bà Ngân chỉ ra một khoảng cách khá rõ: sinh viên có kiến thức, nhưng từ có kiến thức đến làm được việc vẫn là một quãng đường dài. Đây mới là vấn đề cần nhìn thẳng khi bàn về chất lượng đào tạo đại học.

Bà Ngân chia sẻ, doanh nghiệp không đánh giá một nhân sự bằng việc người đó đã học bao nhiêu môn hay nhớ được bao nhiêu kiến thức. Điều họ cần cuối cùng rất thực tế: khi nhận một công việc, người đó có xác định được vấn đề, biết tìm kiếm và chắt lọc thông tin, phối hợp với người khác, đưa ra cách giải quyết và tạo ra kết quả hay không?

Qua thực tế tuyển dụng và làm việc với sinh viên mới tốt nghiệp, bà Ngân cho rằng, khoảng cách này tập trung ở bốn nhóm năng lực: khả năng thực hành công việc; là các kỹ năng mềm, bao gồm giao tiếp, hợp tác, sáng tạo, tư duy phản biện và đặc biệt là tư duy giải quyết vấn đề; khả năng tự học và thích ứng; khả năng quản lý bản thân và tác phong nghề nghiệp.

Luật sư Nguyễn Tiến Hoà – Trưởng chi nhánh Văn phòng Hồ Chí Minh Công ty Luật TNHH ASL nêu quan điểm, tại ASL LAW tuyển dụng khá thường xuyên và đánh giá ứng viên không chỉ dựa trên bằng cấp mà tập trung vào nền tảng kiến thức pháp luật, khả năng tư duy, kỹ năng nghiên cứu – phân tích vấn đề, ngoại ngữ và khả năng xử lý công việc thực tế.

Nhìn chung, sinh viên hiện nay có nền tảng kiến thức tương đối tốt. Tuy nhiên, điểm doanh nghiệp nhận thấy là khoảng cách giữa kiến thức được học tại trường và yêu cầu xử lý một công việc pháp lý thực tế vẫn còn khá lớn. Đây là vấn đề không chỉ của sinh viên mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới cách đào tạo và tăng sự tham gia của doanh nghiệp vào quá trình đào tạo.

Có một thực tế, theo ông Hòa, với sinh viên mới tốt nghiệp, ASL LAW vẫn cần một giai đoạn đào tạo và hướng dẫn tương đối rõ về quy trình làm việc, kỹ năng tư vấn, nghiên cứu hồ sơ, soạn thảo văn bản pháp lý, giao tiếp với khách hàng và tư duy xử lý một vụ việc cụ thể.

Ông Nguyễn Tiến Hoà cho rằng, nếu chỉ xét về kiến thức nền tảng, sinh viên có thể đáp ứng khá tốt; nhưng nếu xét trên tổng thể yêu cầu của một nhân sự pháp lý có thể làm việc độc lập thì mức độ đáp ứng ban đầu còn hạn chế. "Chúng tôi cho rằng không nên đặt vấn đề sinh viên phải “làm được việc ngay”, mà quan trọng là chương trình đại học cần tạo cho sinh viên nhiều cơ hội thực hành hơn để rút ngắn đáng kể khoảng cách này", luật sư Hòa nói.

Theo góc nhìn của doanh nghiệp, ông Hòa cho rằng, chương trình đào tạo Luật nói riêng và đào tạo các ngành nghề nói chung cần chuyển mạnh hơn từ “học để biết” sang “học để vận dụng”. Sinh viên vẫn cần nền tảng lý luận và kiến thức pháp luật, nhưng nên được tiếp cận nhiều hơn với hồ sơ thực tế, tình huống tư vấn, kỹ năng soạn thảo, tranh luận, đàm phán, nghiên cứu pháp lý và đặc biệt là kỹ năng sử dụng công nghệ, AI trong công việc pháp lý.

Cùng chuyên mục

Thi hai môn vào lớp 10 không giúp giảm áp lực

Thi hai môn vào lớp 10 không giúp giảm áp lực

TPO - Nhiều ý kiến cho rằng, việc thi hai môn Toán, Ngữ văn vào lớp 10 cũng không giúp giảm áp lực cho học sinh. Chưa kể, quyết định này có thể làm hạn chế việc học tiếng Anh trong các nhà trường.

Hội nhập toàn cầu: Việt Nam lấy gì để không bị hòa tan?

Hội nhập toàn cầu: Việt Nam lấy gì để không bị hòa tan?

TPO - Diễn đàn Nhân văn Mùa thu do Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức quy tụ hơn 1.300 học giả trong nước và quốc tế, mở ra không gian đối thoại đa ngành nhằm gắn kết nghiên cứu học thuật với bài toán quản trị quốc gia và sự phát triển của công nghệ số.

Ý nghĩa diễn đàn ‘Nói không với thuốc lá, thuốc lá điện tử và chất gây nghiện mới’

Ý nghĩa diễn đàn ‘Nói không với thuốc lá, thuốc lá điện tử và chất gây nghiện mới’

TPO - Diễn đàn “Nói không với thuốc lá, thuốc lá điện tử và chất gây nghiện mới” hướng tới nâng cao nhận thức, trang bị kỹ năng nhận diện và phòng tránh thuốc lá điện tử, các chất gây nghiện mới cho học sinh, đồng thời thúc đẩy sự chung tay của gia đình, nhà trường và xã hội trong xây dựng môi trường học đường an toàn, lành mạnh.

Sinh viên Trường ĐH Công nghệ, ĐH Quốc gia Hà Nội trong phòng lab Ảnh: HOA BAN

Soi mức tăng học phí của các trường đại học

TP - Năm học 2026-2027, nhóm ngành đại học (ĐH) có mức trần học phí cao nhất là y dược với 3,5 - 8,75 triệu đồng/tháng. Việc tăng học phí được xác định theo hai yếu tố: Tăng theo lộ trình của Chính phủ và tăng tùy mức độ tự chủ của cơ sở đào tạo.