Ủng hộ Quỹ đầu tư mạo hiểm
Quỹ đầu tư mạo hiểm là một khái niệm khá mới mẻ với ngành văn hóa nhưng lại được nhiều chuyên gia và nghệ sĩ ủng hộ. Việc Chính phủ bổ sung quy định về việc thí điểm thành lập Quỹ Văn hóa nghệ thuật theo mô hình hợp tác công tư, là quỹ đầu tư mạo hiểm hoạt động theo nguyên tắc thị trường, chấp nhận khả năng rủi ro, bảo đảm công khai, minh bạch đã tạo ra nhiều hy vọng cho những người làm nghề.
Nhà nghiên cứu văn hóa Nguyễn Khoa (Viện nghiên cứu và bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc) khẳng định: “Không thể phát triển công nghiệp văn hóa nếu chỉ tài trợ cho những dự án chắc chắn thành công. Những lĩnh vực như điện ảnh, âm nhạc, thiết kế đều có tỷ lệ thất bại cao. Điều quan trọng là hệ thống phải đủ linh hoạt để cho phép thử nghiệm.” Ông Khoa lấy ví dụ về bộ phim Bên trong vỏ kén vàng của Phạm Thiên Ân (giải Caméra d’Or tại LHP Cannes lần thứ 76). Ê-kíp làm phim gần như không có lợi thế về nguồn lực, chỉ dựa vào sự kiên trì và niềm tin để hoàn thành tác phẩm. “Điện ảnh độc lập gần như luôn đi kèm với thiếu hụt kinh phí, điều kiện sản xuất hạn chế và khả năng tiếp cận thị trường rất thấp. Nhưng nếu những dự án như vậy phải trông chờ hoàn toàn vào nỗ lực cá nhân, thì đó không phải là một hệ thống lành mạnh”, ông Khoa nói.
Quan điểm này gắn với một trong những băn khoăn được nêu tại hội trường: làm thế nào để thiết kế tiêu chí đánh giá rủi ro phù hợp với đặc thù sáng tạo. Nếu vẫn áp dụng các chuẩn mực tài chính truyền thống, hội đồng thẩm định sẽ khó đưa ra quyết định.
TS. Vũ Minh Khôi (Liên hiệp các hội Văn học Nghệ thuật) cho rằng, điểm mấu chốt nằm ở cơ chế giám sát. “Trao quyền cho hội đồng thẩm định là cần thiết, nhưng phải đi kèm với hệ thống đánh giá theo vòng đời dự án, thay vì chỉ nhìn vào kết quả cuối cùng. Một dự án thất bại vẫn có thể mang lại giá trị học hỏi cho hệ sinh thái”.
Ở chiều ngược lại, nhiều chuyên gia cũng nhấn mạnh rằng, tài chính chỉ là một nửa của bài toán. Nửa còn lại là đầu ra. Nếu không có thị trường tiếp nhận, các khoản đầu tư sẽ khó tạo hiệu quả.
Điều này dẫn đến sự kết nối với các chính sách khác trong dự thảo Nghị quyết về cơ chế, chính sách đột phá phát triển văn hóa Việt Nam, đặc biệt là cơ chế đặt hàng sáng tạo và khai thác thiết chế văn hóa cơ sở. Việc giao quyền cho cấp địa phương trong vận hành thiết chế được xem là cách để mở rộng không gian tiếp cận sản phẩm văn hóa.
NSND Lệ Ngọc nhìn thẳng vào một thực tế kéo dài nhiều năm, nhiều tác phẩm “sáng tác xong là cất kho”. “Không phải vì chất lượng kém, mà vì không có sân khấu, không có khán giả”. Theo bà, câu chuyện quỹ đầu tư mạo hiểm cho văn hóa không thể dừng ở khâu rót vốn ban đầu. Một quỹ đúng nghĩa phải tham gia vào toàn bộ vòng đời của sản phẩm, từ phát triển ý tưởng, hoàn thiện tác phẩm đến phân phối và tiếp cận công chúng. Nếu chỉ cấp kinh phí như cơ chế tài trợ hiện nay, rủi ro “cất kho” sẽ tiếp tục lặp lại.
Theo kinh nghiệm quốc tế, nhà nghiên cứu Nguyễn Khoa cho rằng, quỹ đầu tư mạo hiểm trong văn hóa chỉ vận hành hiệu quả khi được đặt trong một hệ sinh thái chính sách đồng bộ. Ông Khoa lấy ví dụ tại Vương quốc Anh, các quỹ như Creative England hay các chương trình của Viện Điện ảnh Anh không chỉ cấp vốn mà còn tham gia vào phát triển dự án, phân phối và kết nối thị trường. Ở Hàn Quốc, mô hình quỹ nội dung được Chính phủ bảo trợ thông qua Cơ quan Nội dung Sáng tạo Hàn Quốc cho phép chia sẻ rủi ro với doanh nghiệp, đồng thời tạo hành lang pháp lý linh hoạt để đầu tư vào các lĩnh vực mới như trò chơi điện tử, điện ảnh, âm nhạc. “Điểm chung là họ không coi quỹ là công cụ cấp phát, mà là một thiết chế tài chính có khả năng chấp nhận thất bại có kiểm soát”, ông Khoa nói. Theo ông Khoa, Việt Nam nếu triển khai cần đặc biệt chú ý đến cơ chế thẩm định và hậu kiểm, tránh tình trạng quỹ tồn tại hình thức nhưng không dám đầu tư vào những dự án có tính đột phá.
Ðiều kiện cần và đủ để công nghiệp văn hóa vận hành
Trong số những điều kiện cần và đủ để vận hành công nghiệp văn hóa trong dài hạn, nhiều chuyên gia thống nhất rằng không gian và nhân lực là “hai yếu tố tiên quyết”.
Dự thảo Nghị quyết đã đặt mục tiêu công nghiệp văn hóa đóng góp khoảng 10% GDP, đồng thời đề xuất phát triển các cụm, khu công nghiệp sáng tạo, mở rộng không gian văn hóa trong hạ tầng đô thị. Văn hóa không chỉ tồn tại trong nhà hát hay bảo tàng, mà cần hiện diện trong đời sống hằng ngày.
KTS. Hoàng Minh Đức, chuyên gia quy hoạch đô thị (Viện Kiến trúc) cho rằng việc tích hợp nghệ thuật vào hạ tầng công cộng sẽ tạo ra sự thay đổi về thói quen tiếp cận văn hóa. “Một công viên có tác phẩm nghệ thuật, một nhà ga có thiết kế mỹ thuật tốt, sẽ khiến người dân tiếp xúc với văn hóa một cách tự nhiên. Đây là cách nuôi dưỡng thị trường lâu dài”, ông Đức nói. Ý kiến này tương đồng với các đề xuất về việc dành một phần nguồn lực đầu tư công cho hạng mục nghệ thuật trong công trình công cộng, nhằm tạo đầu ra bền vững cho sáng tạo.
Ông Đức dẫn ví dụ, tại Pháp, chính sách “1% nghệ thuật” buộc các công trình công phải dành một phần kinh phí cho tác phẩm nghệ thuật, tạo nên mạng lưới tác phẩm trải rộng trong đời sống đô thị. Ở New York, chương trình cùng tên đã đưa hàng nghìn tác phẩm vào hệ thống tàu điện, quảng trường, trường học. Hay tại Singapore, nghệ thuật được tích hợp ngay từ khâu quy hoạch, trở thành một phần của thiết kế đô thị chứ không phải yếu tố trang trí bổ sung.
2% tổng chi cho văn hóa là nhiều hay ít?
Với đề xuất dành tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước cho văn hóa, nhiều chuyên gia cho rằng mức này nếu đặt trong so sánh quốc tế không phải là quá cao, nhưng cũng không thấp. TS. Phạm Hồng Quang, chuyên gia kinh tế sáng tạo cho rằng, tại Pháp, chi tiêu công cho văn hóa thường dao động quanh mức 1% ngân sách trung ương, nhưng khi cộng thêm chi của chính quyền địa phương, tỷ lệ thực tế cao hơn đáng kể. Ở Hàn Quốc, ngân sách văn hóa từng được duy trì ở mức dưới 1%, song hiệu quả được bù đắp bằng các chính sách hỗ trợ công nghiệp nội dung rất mạnh. Trong khu vực, Thái Lan và Singapore không đặt tỷ lệ cứng, nhưng lại đầu tư trọng điểm vào hạ tầng sáng tạo và quỹ hỗ trợ. So sánh như vậy để thấy, mức 2% mà Việt Nam đang đề xuất là tương đối rộng về dư địa, vấn đề then chốt vẫn nằm ở cách phân bổ và cơ chế sử dụng nguồn lực.
Kiến trúc sư Phạm Thanh Tùng (Chánh văn phòng Hội Kiến trúc sư Việt Nam) cho rằng, các thành phố lớn đều có các lớp lang tạo nên đô thị gồm đô thị cũ, mới và đô thị phát triển. Điều quan trọng, theo ông, một thành phố có bản sắc riêng chính là nằm ở những công trình giáo dục, văn hóa tiêu biểu gắn với sự hình thành và phát triển của đô thị. Đây là những di sản nằm trong chuỗi di sản của đô thị, tạo nên thương hiệu của đô thị.
Lấy ví dụ, ông Tùng cho biết khi người Pháp thực hiện quy hoạch Hà Nội, song song với việc xây dựng các khu phố, họ cũng xây dựng cầu Long Biên, Nhà hát lớn, Viện Viễn đông bác cổ...
Về câu chuyện nhân lực, đề xuất tuyển dụng đặc cách nghệ sĩ tài năng, tăng phụ cấp nghề và hỗ trợ đào tạo lại khi hết tuổi nghề thu hút sự chú ý. Giảng viên Phương Dung (ĐH Sân khấu, Điện ảnh) cho rằng, chính sách này phản ánh đúng đặc thù của ngành. “Nghệ sĩ có tuổi nghề ngắn, quá trình đào tạo dài, nhưng lại thiếu cơ chế bảo đảm. Nếu không có chính sách đủ mạnh, nhiều người sẽ rời bỏ lĩnh vực trước khi đạt độ chín”.
Tuy nhiên, bà Dung cũng lưu ý về tiêu chí công nhận tài năng. “Không thể chỉ dựa vào giải thưởng quốc tế. Nhiều nghệ nhân dân gian không có huy chương nhưng giữ vai trò then chốt trong bảo tồn di sản. Chính sách cần bao quát được nhóm này”, bà Dung nói.