Điểm nghẽn lớn nhất của điện ảnh Việt

TPO - Phát biểu tại hội thảo khoa học "Phát triển công nghiệp văn hóa trong kỷ nguyên số" được tổ chức ngày 5/6, TS. Ngô Phương Lan - Chủ tịch Hiệp hội Xúc tiến phát triển Điện ảnh Việt Nam - cho rằng điểm nghẽn lớn nhất của điện ảnh không nằm ở kịch bản hay đạo diễn như nhiều chuyên gia từng nêu. Điểm nghẽn của ngành này mang tính cấu trúc như thể chế, hạ tầng, thị trường và cơ chế phát triển công nghiệp điện ảnh.

Điểm nghẽn cản bước ngành công nghiệp điện ảnh

Hội thảo khoa học Phát triển công nghiệp văn hóa trong kỷ nguyên số do Báo Văn hoá chủ trì, phối hợp với Trường Đại học Văn hoá TP Hồ Chí Minh tổ chức ngày 5/6 tại TPHCM quy tụ đông đảo nhà quản lý, chuyên gia, nhà khoa học và doanh nghiệp cùng bàn thảo về những vấn đề trọng tâm của công nghiệp văn hóa Việt Nam trong giai đoạn mới.

Diễn ra trong bối cảnh Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 28/2026/QH16 của Quốc hội vừa được ban hành, hội thảo tập trung thảo luận các giải pháp phát triển công nghiệp văn hóa, đưa văn hóa trở thành động lực tăng trưởng mới trong kỷ nguyên số. Sự kiện cũng tạo diễn đàn trao đổi giữa các nhà quản lý, chuyên gia và giới sáng tạo nhằm đánh giá thực trạng, đề xuất hướng đi để hiện thực hóa các mục tiêu phát triển công nghiệp văn hóa của Việt Nam.

z7903858637558-7eca9d9c96f405219b421624f216fdf0.jpg
Đông đảo nhà quản lý, chuyên gia, nhà khoa học và doanh nghiệp quy tụ tại hội thảo khoa học Phát triển công nghiệp văn hóa trong kỷ nguyên số tổ chức ngày 5/6 tại TPHCM.

Một trong những ngành công nghiệp văn hóa được quan tâm thời gian gần đây là điện ảnh. Trong tham luận gửi hội thảo, TS. Ngô Phương Lan - Chủ tịch Hiệp hội Xúc tiến phát triển Điện ảnh Việt Nam - khẳng định điện ảnh Việt Nam đang đứng trước yêu cầu cấp thiết phải chuyển mình thành một ngành công nghiệp văn hóa đúng nghĩa.

Bà ghi nhận những tín hiệu tích cực của điện ảnh Việt với nhiều bộ phim đạt doanh thu cao và thu hút khán giả, song vẫn cho rằng ngành vẫn chưa xây dựng được một hệ sinh thái phát triển bền vững.

552645020-657710174073439-5589851395931411117-n.jpg
tu-chien-tren-khong-2-17582755-3410-2296-1758276042.jpg
phimmai220240322113653-1711530205192917872720.jpg
anh-1-1743563121153728186366-9408.jpg
Sự tăng trưởng doanh thu phòng vé được xem là tín hiệu tích cực của điện ảnh Việt.

Chủ tịch Hiệp hội Xúc tiến phát triển Điện ảnh Việt Nam nhận định thành công của điện ảnh Việt hiện nay chủ yếu đến từ những điểm sáng riêng lẻ thay vì sức mạnh của cả ngành.

"Chúng ta còn thiếu chuỗi giá trị hoàn chỉnh từ phát triển kịch bản, sản xuất, phát hành đến khai thác IP. Việt Nam cũng chưa hình thành được các 'studio system' hay các doanh nghiệp nội dung quy mô lớn. Nói cách khác, chúng ta đang có nghề làm phim, nhưng chưa có ngành công nghiệp điện ảnh", TS. Ngô Phương Lan nêu.

1305-02-9160.jpg
TS. Ngô Phương Lan - Chủ tịch Hiệp hội Xúc tiến phát triển Điện ảnh Việt Nam - không đồng tình rằng điện ảnh Việt yếu vì thiếu kịch bản hay hoặc thiếu đạo diễn giỏi.

​Bên cạnh đó, bà không đồng tình với quan điểm phổ biến nhưng chưa đầy đủ là điện ảnh Việt yếu vì thiếu kịch bản hay hoặc thiếu đạo diễn giỏi. Trên thực tế, điểm nghẽn lớn nhất không nằm ở tài năng mà ở những hạn chế mang tính cấu trúc.

"Thể chế hiện chưa theo kịp sự phát triển của thị trường, chính sách hỗ trợ còn manh mún và thiếu các công cụ tài chính cần thiết. Bên cạnh đó, hạ tầng sản xuất còn yếu, thiếu trường quay hiện đại và trung tâm hậu kỳ đạt chuẩn. Phim Việt cũng chủ yếu phục vụ thị trường trong nước, trong khi khả năng vươn ra quốc tế còn hạn chế. Việc khai thác tài sản trí tuệ chưa hiệu quả, thiếu chiến lược phát triển IP dài hạn và sự kết nối với các nền tảng khác", TS. Ngô Phương Lan nhấn mạnh.

Điện ảnh Việt đang đứng trước cơ hội lớn trong kỷ nguyên số. Sự phát triển của các nền tảng OTT giúp phim Việt tiếp cận khán giả toàn cầu, trong khi các công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo, kỹ xảo số hay sản xuất ảo mở ra khả năng nâng cao chất lượng và giảm chi phí sản xuất. Kho tàng văn hóa, lịch sử và đời sống đương đại phong phú của Việt Nam cũng là nguồn chất liệu giàu tiềm năng để tạo ra những sản phẩm có giá trị kinh tế và sức lan tỏa quốc tế.

Để hiện thực hóa mục tiêu phát triển điện ảnh thành một ngành công nghiệp văn hóa, bà đề xuất cần hoàn thiện cơ chế chính sách đặc thù, xây dựng quỹ hỗ trợ điện ảnh, đầu tư hạ tầng sản xuất hiện đại, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đẩy mạnh chuyển đổi số và bảo hộ bản quyền. Quan trọng hơn, điện ảnh cần được nhìn nhận không chỉ là nghệ thuật mà còn là một ngành kinh tế sáng tạo có khả năng tạo giá trị gia tăng cao và góp phần lan tỏa hình ảnh, sức mạnh mềm của quốc gia trên trường quốc tế.

Loay hoay với bài toán sáng tạo và bản quyền khi dùng AI

Bên cạnh câu chuyện hoàn thiện thể chế, hạ tầng và thị trường để xây dựng một nền công nghiệp điện ảnh thực thụ, nhiều ý kiến tại hội thảo cũng nhấn mạnh tác động ngày càng lớn của công nghệ, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo đối với lĩnh vực văn hóa sáng tạo.

Theo đó, trí tuệ nhân tạo được nhìn nhận như một trong những yếu tố có khả năng định hình lại toàn bộ chuỗi giá trị của ngành công nghiệp văn hóa trong tương lai. Từ góc nhìn này, PGS.TS Nguyễn Văn Thăng Long (Đại học RMIT Việt Nam) đã đưa ra những phân tích về cơ hội, thách thức và các yêu cầu quản trị mới khi AI ngày càng tham gia sâu vào quá trình sáng tạo nội dung.

672688252-10164036334553164-5139045471199672741-n-3787.jpg
PGS.TS Nguyễn Văn Thăng Long có những phân tích về cơ hội, thách thức khi AI ngày càng tham gia sâu vào quá trình sáng tạo nội dung.

Theo ông, AI mang lại hai lợi ích nổi bật là dân chủ hóa hoạt động sáng tạo và tăng tốc đáng kể quy trình sản xuất. Nhờ các công cụ AI, những nhà sáng tạo trẻ hoặc nghệ sĩ độc lập có thể tiếp cận các công đoạn vốn đòi hỏi nguồn lực lớn như sản xuất âm nhạc, dựng phim hay thiết kế đồ họa.

Tuy nhiên, bên cạnh cơ hội, AI cũng đặt ra nhiều thách thức chiến lược cho ngành công nghiệp văn hóa. "Nếu lạm dụng AI một cách đại trà, các sản phẩm văn hóa có nguy cơ rơi vào trạng thái đồng nhất hóa, thiếu vắng sự đột phá độc bản và mất đi khả năng phản ánh chiều sâu giá trị đặc thù của từng cộng đồng bản địa", ông Long nêu.

Vấn đề bản quyền cũng đang là một "vùng xám" khi chưa có câu trả lời rõ ràng về quyền sở hữu đối với các tác phẩm được tạo ra với sự tham gia đáng kể của AI. Dẫn ví dụ từ LANDR - nền tảng ứng dụng AI trong xử lý âm thanh được hàng triệu nghệ sĩ trên thế giới sử dụng, ông Long cho rằng công nghệ đã giúp bình đẳng hóa cơ hội sáng tạo nhưng lại góp phần khiến các sản phẩm âm nhạc có xu hướng trở nên giống nhau.

Tuy nhiên, việc sử dụng AI để tạo ra các nghệ sĩ ảo hoặc tái tạo hình ảnh, giọng nói của người thật cũng đặt ra những câu hỏi lớn về pháp lý và đạo đức. "Tại Việt Nam, việc ứng dụng AI trong sáng tạo văn hóa đang dịch chuyển từ giai đoạn thử nghiệm sang ứng dụng thực tế. Các nghệ sĩ độc lập thế hệ mới đã bắt đầu khai thác AI như một công cụ hỗ trợ tìm kiếm ý tưởng âm nhạc, trong khi các hãng sản xuất lớn ứng dụng AI để tăng tốc độ dựng phim hoặc tối ưu hóa hình ảnh cho các chiến dịch truyền thông tích hợp", PGS.TS Nguyễn Văn Thăng Long nhận định.

everything-we-added-to-landr-studio-this-year-so-far-1.png
LANDR là một trong những nền tảng ứng dụng AI trong sản xuất âm nhạc được hàng triệu nghệ sĩ trên thế giới sử dụng.

Để tận dụng hiệu quả công nghệ này, cần thúc đẩy mô hình đồng sáng tạo giữa con người và AI, xây dựng cơ chế nhận diện các sản phẩm có sử dụng AI, đồng thời sớm hoàn thiện hành lang pháp lý về bản quyền. Dù công nghệ phát triển đến đâu, yếu tố cốt lõi vẫn là con người với tư duy phản biện, khả năng kể chuyện và sự nhạy cảm văn hóa - những giá trị mà AI khó có thể thay thế.

Bên cạnh đó, tại hội thảo các đại biểu cũng thảo luận về những vấn đề đặt ra đối với việc bảo vệ bản quyền, phát triển thị trường văn hóa, xây dựng chủ quyền văn hóa số, nâng cao năng lực số cho đội ngũ sáng tạo và thúc đẩy quảng bá sản phẩm văn hóa Việt Nam ra thị trường quốc tế...