Lỗi trong quy trình tổ chức thi
Tại buổi họp báo ngày 5/8 về phương án xử lí thí sinh tại điểm thi THPT Chuyên Tuyên Quang trong kì thi tốt nghiệp THPT vừa qua, Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Phạm Ngọc Thưởng, Trưởng Ban chỉ đạo thi cấp quốc gia đã trả lời câu hỏi trách nhiệm của Bộ này trong vụ việc sai phạm nghiêm trọng thi tốt nghiệp THPT năm 2026 không chỉ ở Tuyên Quang mà một số tỉnh, thành khác.
Theo ông Thưởng, trách nhiệm chính để xảy ra gian lận thi là của địa phương. Tuy nhiên, Bộ GD&ĐT cũng tiếp thu ý kiến của dư luận và các chuyên gia để tăng cường trách nhiệm của mình trong công tác quản trị kì thi và quản trị rủi ro.
Theo phân cấp quản lí và các quy định pháp luật về giáo dục hiện hành, trách nhiệm của Bộ GD&ĐT được xem xét trên các khía cạnh cụ thể như: Mô hình thi tốt nghiệp THPT giao quyền chủ động rất lớn cho các địa phương trong công tác tổ chức, coi thi và chấm thi, Bộ GD&ĐT giữ vai trò chỉ đạo chung, ra đề thi và quản lí hệ thống dữ liệu.
TS Lê Trường Tùng, Chủ tịch Hội đồng Trường ĐH FPT cho rằng, việc xây dựng quy trình thi của Bộ GD&ĐT có lỗ hổng trong cơ chế giám sát chéo. Việc Bộ ban hành quy định giám thị phòng thi đều là người địa phương, tạo cơ sở tiêu cực vì quyền lợi địa phương, trong khi ở trong phòng thi lại không có camera giám sát.
Ông Tùng thông tin, trong các năm 2017 - 2019, Bộ GD&ĐT quy định: Mỗi phòng thi có hai cán bộ coi thi, gồm giáo viên trường phổ thông hoặc trường THCS trên địa bàn tỉnh; giảng viên, chuyên viên các phòng, ban và tương đương của trường ĐH, CĐ phối hợp. Từ năm 2020 đến nay, sửa lại: Cán bộ coi thi là giáo viên trường phổ thông hoặc trường THCS trên địa bàn tỉnh; mỗi phòng thi bảo đảm bố trí hai cán bộ coi thi ở hai trường phổ thông khác nhau. Theo quy định này, giám thị trong phòng thi hoàn toàn là người tại địa phương nhưng vẫn thiếu các cơ chế kiểm soát chéo hữu hiệu (như hoán đổi cán bộ chấm thi/coi thi giữa các tỉnh hoặc tăng cường giám sát độc lập) tạo điều kiện cho sự móc nối, khép kín sai phạm ở cấp cơ sở.
Một trong những chức năng cốt lõi của Bộ GD&ĐT trong kì thi tốt nghiệp THPT là công tác thanh tra, giám sát nhằm đảm bảo tính nghiêm minh trên toàn quốc. Thực tế Bộ GD&ĐT luôn cử các đoàn kiểm tra đến các điểm thi. Tuy nhiên, sai phạm quy mô lớn xảy ra tại một điểm thi như Trường THPT Chuyên Tuyên Quang nhưng lực lượng kiểm tra tại chỗ không phát hiện hoặc ngăn chặn kịp thời đã thể hiện sự bị động hoặc hình thức trong công tác giám sát thực địa.
Lỗ hổng giám sát chéo
Theo tìm hiểu của phóng viên báo Tiền Phong, tại văn bản số 195 của UBND tỉnh Tuyên Quang về kế hoạch tổ chức kì thi tốt nghiệp THPT năm 2026, điểm thi Trường THPT Chuyên Tuyên Quang, có 330 thí sinh đăng kí dự thi và số thí sinh dự thi thực tế là 328.
Điểm thi có 16 phòng thi (14 phòng thi chính thức, 1 phòng chờ, 1 phòng dự phòng). Tổng số có 62 người được phân công làm nhiệm vụ thi, trong đó, 42 giám thị đến từ 3 trường THPT khác trên địa bàn; 1 trưởng điểm thi; 2 phó trưởng điểm thi; 4 thư kí; 4 phục vụ; 2 bảo vệ của trường; 1 y tế; 1 điện lực; 1 công an bảo vệ đề và bài thi; 2 công an bảo vệ vòng trong; 2 người kiểm tra thi. Được biết, 2 người kiểm tra thi là giảng viên của 1 trường ĐH tại Hà Nội được Bộ GD&ĐT phân công. Theo chia sẻ của giảng viên chịu trách nhiệm kiểm tra thi tại điểm thi này, các phòng thi được bố trí tại 3 tòa nhà. Sự “phối hợp” ăn ý của những thành viên tại điểm thi là người địa phương đã vô hiệu hóa được vai trò 2 kiểm tra thi ủy quyền của Bộ GD&ĐT.
Như vậy, trên lí thuyết, Bộ GD&ĐT có thiết kế cơ chế giám sát chéo, thậm chí là nhiều tầng nấc. Tuy nhiên, qua các sự cố gian lận gần đây, cơ chế này đã lộ rõ những điểm nghẽn khiến hiệu quả thực tế không đạt như kì vọng. Sự nghi ngờ của dư luận xuất phát từ việc các cơ chế giám sát chéo này thường gặp phải một số “điểm mù” vận hành. Thứ nhất, lực lượng kiểm tra đại học bị vô hiệu hóa hoặc thiếu quyền lực thực tế. Giảng viên đại học được cử về địa phương kiểm tra thường rơi vào thế “khách”. Số lượng kiểm tra đại học quá ít trong 1 điểm thi. Họ không thông thuộc địa bàn, không nắm quyền quản lí con người tại chỗ và hầu như chỉ giám sát mang tính thủ tục/xác suất.
Khi phát hiện bất thường, kiểm tra đại học chỉ có quyền lập biên bản/kiến nghị, không có quyền đình chỉ hay can thiệp trực tiếp vào quy trình vận hành của ban chỉ đạo thi cấp tỉnh.
Thứ hai, xung đột lợi ích ở cấp địa phương. Khi UBND tỉnh chịu trách nhiệm toàn diện, áp lực về bệnh thành tích hoặc lợi ích nhóm tại địa phương có thể phát sinh. Thực tế, cả Sở GD&ĐT, Công an tỉnh, Thanh tra tỉnh đều chịu sự chỉ đạo trực tiếp của UBND tỉnh. Nếu sự cố hoặc gian lận xuất phát từ chính cán bộ có chức quyền tại địa phương, cơ chế giám sát nội bộ tại tỉnh rất dễ bị vô hiệu hóa hoặc bị “bắt tay” che giấu.
Tiếp theo là giám sát quy trình hành chính thay vì giám sát kĩ thuật/công nghệ. Lực lượng thanh tra chủ yếu kiểm tra các yếu tố bề nổi: Hồ sơ, niêm phong, lịch phân công, biển cảnh báo... Trong khi đó, các hành vi gian lận thường nằm ở vi phạm công nghệ cao, can thiệp phần mềm chấm thi, hoặc móc nối tinh vi trong khoảnh khắc. Thanh tra thông thường hoàn toàn thiếu kĩ năng và công cụ chuyên môn để phát hiện các sai phạm này.
Từ vụ việc tại Tuyên Quang, trách nhiệm lớn nhất của Bộ GD&ĐT trong tương lai là phải nhanh chóng rà soát và tái cấu trúc quy trình tổ chức thi.
Để không lặp lại câu chuyện "mất bò mới lo làm chuồng", mô hình quản trị kì thi cần chuyển đổi từ giám sát thủ tục sang quản trị rủi ro thực chất. Trong đó, lực lượng kiểm tra ủy quyền của Bộ cần có quyền hạn độc lập, dữ liệu riêng và không phụ thuộc vào hậu cần của địa phương được thanh tra. Thay vì chỉ cử người đứng nhìn, hệ thống phải mã hóa bài thi, giám sát thao tác chấm thi bằng nhật kí phần mềm không thể sửa xóa. Sử dụng thuật toán quét phổ điểm bất thường ngay khi nhập dữ liệu để tự động kích hoạt thanh tra đột xuất. Khi cán bộ giám sát chéo phát hiện dấu hiệu bất thường, họ phải có quyền dừng khâu đó lại để xác minh ngay lập tức, thay vì chỉ ghi nhận rồi chờ báo cáo cấp trên.