Nhiều ý kiến cho rằng, bài toán lớn nhất không chỉ nằm ở năng lực phối trộn mà còn là đảm bảo đủ nguồn ethanol phục vụ pha chế E10 trong giai đoạn đầu triển khai.
Theo tính toán của Bộ Công Thương, khi triển khai xăng E10 trên phạm vi toàn quốc, nhu cầu ethanol nhiên liệu (E100) sẽ vào khoảng 92.000 - 100.000 m3 mỗi tháng. Trong khi đó, tổng sản lượng ethanol trong nước hiện chỉ đáp ứng khoảng 25.000 m3/tháng. Điều này đồng nghĩa Việt Nam sẽ phải nhập khẩu khoảng 75.000 m3 ethanol mỗi tháng, trong ít nhất một năm đầu triển khai.
Đại diện Tổng Công ty Dầu Việt Nam (PVOIL) cho biết, doanh nghiệp đã ký hợp đồng mua khoảng 19.000 m3 ethanol nhiên liệu để phục vụ phối trộn E10 và đang tiếp tục làm việc với các đối tác. Doanh nghiệp đang sử dụng cả nguồn ethanol sản xuất trong nước và ethanol nhập khẩu để chủ động nguồn hàng trong giai đoạn đầu chuyển đổi.
Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) cho hay đã ký khoảng 40.000 m3 ethanol phục vụ kế hoạch phối trộn E10. Để đảm bảo nguồn cung ethanol ổn định trong giai đoạn đầu triển khai xăng E10 trên toàn hệ thống, tập đoàn đang xúc tiến làm việc với nhiều đối tác từ Mỹ, Hàn Quốc, Singapore và khu vực Đông Nam Á. Theo kế hoạch, nhu cầu ethanol phục vụ phối trộn E10 của Petrolimex trong thời gian tới có thể lên tới khoảng 45.000 - 50.000 m3 mỗi tháng.
Ông Đào Duy Anh - Phó Cục trưởng, Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công, Bộ Công Thương - cho biết Việt Nam hiện có 6 nhà máy ethanol, gồm: Nhà máy cồn Đồng Nai, Nhà máy cồn Quảng Nam, Nhà máy nhiên liệu sinh học Dung Quất, Nhà máy nhiên liệu sinh học Bình Phước, Nhà máy ethanol Đại Việt, Nhà máy ethanol Đắk Tô và Nhà máy nhiên liệu sinh học Phú Thọ.
Tuy nhiên, phần lớn đây là các dự án được đầu tư từ nhiều năm trước, trong đó một số từng nằm trong danh mục các dự án yếu kém ngành công thương và phải tái cơ cấu kéo dài. Trong thời gian dài chỉ khoảng 2-3 nhà máy duy trì hoạt động tương đối ổn định như Nhà máy cồn Tùng Lâm (Đồng Nai) và Nhà máy cồn Đại Tân (Quảng Nam), nhiều dự án khác vẫn trong quá trình tái khởi động hoặc chuyển đổi công nghệ.
Theo ông Đào Duy Anh, ngay cả khi các nhà máy trong nước hoạt động tối đa công suất cũng mới đáp ứng được khoảng 40-50% nhu cầu ethanol phục vụ phối trộn xăng sinh học. Vì vậy, việc nhập khẩu ethanol trong giai đoạn đầu gần như là bắt buộc nếu muốn đảm bảo nguồn cung cho thị trường E10.
“Duy trì thuế nhập khẩu ethanol 5% trong thời gian bao lâu để tạo khoảng trống có lợi cho doanh nghiệp trong nước phụ thuộc vào năng lực đàm phán của Việt Nam và tình hình thực tế. Tuy nhiên, việc đánh thuế 5% không có nghĩa giá xăng E10 sẽ đắt, bởi điều này còn phụ thuộc vào giá ethanol trên thị trường thế giới”, ông Đào Duy Anh phân tích.
Theo đại diện Bộ Công Thương, ethanol hiện có nguồn cung khá dồi dào trên thế giới từ các thị trường lớn như Mỹ, Brazil, Ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan hay Philippines. Đây được xem là yếu tố giúp giảm bớt lo ngại về nguy cơ thiếu hụt nguồn hàng trong giai đoạn đầu triển khai E10.
Theo Hiệp hội Nhiên liệu sinh học Việt Nam, ethanol là mặt hàng mà Mỹ gần như thống trị thế giới về sản lượng, chiếm khoảng 50% tổng sản lượng ethanol toàn cầu.
Với sản lượng tiêu thụ khoảng 10 triệu tấn xăng hiện nay, việc triển khai E10 có thể khiến nhu cầu nhập khẩu ethanol của Việt Nam tăng gấp khoảng 10 lần hiện nay, lên khoảng 1 triệu tấn ethanol/năm, tương đương giá trị xấp xỉ 1 tỷ USD.
Trong thời gian tới, nếu Việt Nam tiếp tục nâng tỷ lệ phối trộn ethanol lên 20% như nhiều quốc gia đã áp dụng như Philippines, Thái Lan, Mỹ, Brazil hay các nước châu Âu, dư địa nhập khẩu riêng mặt hàng ethanol từ Mỹ có thể đạt khoảng 2 tỷ USD, tương đương khoảng 17% giá trị nhập khẩu hàng hóa từ Mỹ vào Việt Nam hiện nay.