Giữ dòng máu nuôi não
Người đàn ông 48 tuổi được đưa đến cấp cứu tại BV đa khoa quốc tế S.I.S Cần Thơ sau khoảng 5 giờ xuất hiện yếu nửa người bên phải và khó diễn đạt bằng lời nói. Bệnh nhân trước đó có tiền sử tăng huyết áp. Khi thăm khám, bác sĩ ghi nhận mắt người bệnh nhìn lệch sang trái, yếu mặt, tay chân bên phải và rối loạn ngôn ngữ.
Theo báo cáo của BS.CKI Phạm Thị Thu Thảo- Khoa Thần kinh Đột quỵ 2- Bệnh viện Đa khoa Quốc tế S.I.S Cần Thơ tại Hội nghị Liên đoàn Can thiệp thần kinh thế giới lần thứ 18 tại Hàn Quốc, cho thấy điểm NIHSS lúc nhập viện của bệnh nhân là 15. Thang điểm này giúp đánh giá mức độ ảnh hưởng của đột quỵ đến chức năng thần kinh và theo dõi sự thay đổi trong quá trình điều trị.
Kết quả chụp MRI cho thấy, bệnh nhân nhồi máu cấp ở bán cầu não trái, nghĩa là một vùng não đã tổn thương do thiếu máu nuôi. Đoạn đầu của động mạch não giữa trái bị tắc. Người bệnh nhanh chóng được đưa đến phòng can thiệp để lấy huyết khối bằng dụng cụ cơ học. Tuy nhiên, diễn biến thủ thuật không thuận lợi. Sau hai lượt lấy huyết khối, dòng máu qua đoạn mạch được khôi phục nhưng chỉ duy trì tạm thời. Vài phút sau, mạch máu lại tắc.
Bác sĩ Thảo cho biết, ê kíp tiếp tục nong bóng, đưa một bóng nhỏ đến vị trí tổn thương rồi bơm để mở rộng lòng mạch. Dù đã thực hiện hai lần, dòng máu vẫn không được duy trì ổn định. Các bác sĩ quyết định chuyển sang đặt stent cứu vãn.
Khác với dụng cụ dạng stent dùng để “bắt giữ” cục máu đông rồi kéo ra ngoài, stent cứu vãn được để lại trong lòng mạch như một khung đỡ. Với người bệnh này, phương án giúp khôi phục hoàn toàn dòng máu qua đoạn mạch tổn thương. “Sau can thiệp, chức năng thần kinh cải thiện rõ. Đến ngày thứ ba kể từ khi khởi phát triệu chứng, điểm NIHSS giảm từ 15 xuống còn 2. Chụp CT ghi nhận một vùng nhồi máu nhỏ ở thùy thái dương–chẩm trái”- Bác sĩ Phạm Thị Thu Thảo cho hay.
90 ngày sau can thiệp, bác sĩ Thảo cho biết, bệnh nhân thực hiện được các hoạt động thường ngày, không bị hạn chế đáng kể.
Nhận diện đoạn hẹp phía sau huyết khối
Tình trạng mạch máu vừa thông đã tắc cũng là vấn đề BS.CKI Dương Hoàng Linh, Đơn vị DSA của Bệnh viện đa khoa Quốc tế S.I.S Cần Thơ, phân tích trong báo cáo tại hội nghị chiều 12/10. Tham luận của bác sĩ Linh tập trung vào tắc mạch lớn cấp tính liên quan đến xơ vữa động mạch nội sọ.
Bác sĩ Linh cho biết, ở nhóm bệnh này, lòng động mạch đã bị thu hẹp bởi xơ vữa, sau đó xuất hiện thêm cục máu đông gây bít tắc. Khi lấy được huyết khối, phần hẹp vẫn còn. Vì vậy, để duy trì dòng máu nuôi não, bác sĩ có thể phải xử trí cả đoạn mạch tổn thương.
Theo bác sĩ Dương Hoàng Linh, tại Bệnh viện đa khoa Quốc tế S.I.S Cần Thơ, khoảng 30–40% bệnh nhân trong nhóm can thiệp được đề cập cần thêm nong bóng hoặc đặt stent nội sọ. Thực tế này cho thấy, vai trò của việc nhận diện xơ vữa từ sớm, thay vì chỉ tập trung vào cục máu đông.
Việc đánh giá bắt đầu ngay trước thủ thuật. Bác sĩ xem xét các yếu tố nguy cơ xơ vữa, triệu chứng có lúc tăng lúc giảm, tổn thương ở những mạch máu khác và hình ảnh vùng não bị nhồi máu.
Trong quá trình can thiệp, hình dạng đoạn mạch tắc, mức độ hẹp và sự thay đổi của dòng máu khi dụng cụ đi qua tiếp tục cung cấp những dấu hiệu gợi ý. Các thông tin này cần được kết hợp để xác định bản chất tổn thương và điều chỉnh cách xử trí. “Đối với những trường hợp tắc mạch liên quan đến xơ vữa động mạch nội sọ, việc nhận diện tổn thương xơ vữa trước khi tiến hành thủ thuật là vô cùng quan trọng”, BS Linh nhấn mạnh.
Những ca lâm sàng trong báo cáo của bác sĩ Linh hội WFITN 2026 cho thấy, cách xử trí thay đổi theo từng tổn thương. Có trường hợp ê kíp phối hợp nong bóng với hút huyết khối, tái lập được dòng máu mà không cần đặt stent.
Trong khi đó, người đàn ông 46 tuổi có tiền sử đột quỵ tái phát lại cần thêm một bước can thiệp. Theo bác sĩ Linh, sau nong bóng, mạch máu được khơi thông tốt ở phút đầu, nhưng đến phút thứ năm đã có xu hướng tắc trở lại buộc ê kíp phải đặt stent tại chỗ để giữ lòng mạch.
Diễn biến ấy cho thấy việc mở mạch phải đi cùng theo dõi khả năng duy trì dòng máu. Khi phương án ban đầu chưa đạt mục tiêu, bác sĩ cần đánh giá lại và lựa chọn bước tiếp theo.
Từ kinh nghiệm được trình bày, bác sĩ Linh nhấn mạnh nhận diện sớm tổn thương xơ vữa và xem xét nong bóng sớm ở trường hợp phù hợp. Tuy nhiên, mỗi ca vẫn cần cân nhắc lợi ích và nguy cơ riêng.
Điều trị tiếp tục sau khi mở mạch
Khi dòng máu đã được khôi phục, người bệnh cần tiếp tục điều trị nhằm hạn chế huyết khối hình thành trở lại. Nghiên cứu của bác sĩ Ngô Minh Trường- Khoa Hồi sức Cấp cứu- Bệnh viện S.I.S Cần Thơ đặt ra câu hỏi: Vì sao cùng dùng một thuốc, khả năng đáp ứng giữa các bệnh nhân có thể khác nhau?
Clopidogrel là thuốc chống kết tập tiểu cầu, giúp hạn chế tiểu cầu kết dính tạo cục máu đông. Để phát huy tác dụng, thuốc cần được cơ thể chuyển thành dạng có hoạt tính. Enzyme do gen CYP2C19 quy định tham gia quá trình này.
Theo bác sĩ Trường, một số biến thể gen có thể làm giảm khả năng hoạt hóa thuốc. Thông tin di truyền vì thế có thể hỗ trợ bác sĩ khi cân nhắc lựa chọn điều trị.
Nghiên cứu mô tả cắt ngang khảo sát 4.926 người bệnh đột quỵ thiếu máu não, tuổi trung bình 62,9, nam giới chiếm 62,5% ở Bệnh viện đa khoa Quốc tế S.I.S Cần Thơ, nhóm nghiên cứu của bác sĩ Trường sử dụng kỹ thuật PCR để xác định các biến thể CYP2C19 liên quan đến giảm chức năng chuyển hóa.
Theo đó, kết quả cho thấy, 45% thuộc nhóm chuyển hóa bình thường, 44,6% chuyển hóa trung gian và 10,4% chuyển hóa kém. Hai nhóm sau chiếm 55% mẫu khảo sát.
Đây là đặc điểm của nhóm bệnh nhân nghiên cứu, không phải tỷ lệ đại diện cho toàn bộ người Việt. Kết quả cũng không đồng nghĩa 55% người bệnh chắc chắn thất bại khi dùng clopidogrel. Nghiên cứu chưa trực tiếp đánh giá mức giảm tái phát đột quỵ nhờ xét nghiệm.
Bác sĩ Trường đề xuất cân nhắc thông tin di truyền để tối ưu lựa chọn thuốc, đặc biệt ở người bệnh đặt stent, đồng thời khuyến cáo người bệnh cần tuân thủ quá trình điều trị, không tự ngừng, tăng liều hoặc đổi thuốc.
Từ phòng can thiệp đến quá trình theo dõi, ba báo cáo của 3 bác sĩ Thu Thảo, Hoàng Linh và Minh Trường cùng hướng đến điều trị phù hợp với từng người bệnh. Giá trị cuối cùng của việc tái thông mạch máu được thể hiện qua khả năng phục hồi, trở lại sinh hoạt và duy trì kết quả ấy lâu dài cho người bệnh.