Hấp dẫn nhưng vẫn dừng ở khảo sát
Những khai trường nhiều tầng, phương tiện vận tải khổng lồ, đường lò sâu trong lòng đất cùng lịch sử hơn một thế kỷ của ngành khai khoáng tạo cho Quảng Ninh nguồn tài nguyên du lịch công nghiệp hiếm có.
Ý tưởng khai thác nguồn tài nguyên đặc biệt này một lần nữa được nhắc đến khi TP. Quảng Ninh đề nghị Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) nghiên cứu sử dụng hiệu quả các giá trị sau khai thác mỏ.
Mới đây, Chủ tịch UBND TP. Quảng Ninh Bùi Văn Khắng đề nghị TKV đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, phát triển kinh tế tuần hoàn và nghiên cứu khai thác hiệu quả những giá trị sau khai thác mỏ. Trong đó, một số hạ tầng, không gian mỏ phù hợp có thể được chuyển đổi, tận dụng để phát triển du lịch.
Đặc biệt, đây không phải lần đầu Quảng Ninh đặt vấn đề xây dựng tour du lịch mỏ than.
Cách đây hơn một thập kỷ, (tháng 7/2015), cơ quan quản lý du lịch cùng một số doanh nghiệp lữ hành đã khảo sát tại mỏ Cao Sơn và Vàng Danh. Mỗi địa điểm được đánh giá có lợi thế riêng để tạo ra trải nghiệm khác biệt cho du khách.
Khai trường Cao Sơn gây ấn tượng với những tầng khai thác nối tiếp nhau, hệ thống máy xúc cùng các xe vận tải trọng tải lớn. Du khách có thể quan sát quy mô của một mỏ lộ thiên, tìm hiểu quy trình bóc đất đá, khai thác và vận chuyển than.
Vàng Danh lại mang đặc trưng của một mỏ hầm lò với cửa lò, đường ray, xe goòng và hệ thống công trình phục vụ đời sống công nhân. Cửa lò +122, công trình mang giá trị lịch sử, từng được xem là một trong những địa điểm có thể đưa vào tour trải nghiệm.
Cuối tháng 8/2015, một đoàn gồm 40 du khách đến từ 10 quốc gia đã được đón thử nghiệm tại Vàng Danh và Hà Lầm. Sau chuyến khảo sát, các đơn vị liên quan từng tính tới sản phẩm “một ngày làm thợ lò”, trong đó du khách mặc trang phục bảo hộ, tìm hiểu hoạt động khai thác và trải nghiệm một số công việc của thợ mỏ.
Đầu năm 2016, các chuyên gia thuộc một dự án do Liên minh châu Âu tài trợ tiếp tục tư vấn Quảng Ninh xây dựng sản phẩm du lịch mỏ than. Những vấn đề được đưa ra thảo luận gồm an toàn, môi trường, giao thông, quảng bá và cách tổ chức tham quan tại cả mỏ đang hoạt động lẫn mỏ đã đóng cửa.
Nhiều doanh nghiệp lữ hành đánh giá đây là sản phẩm mới lạ, có khả năng thu hút khách trong nước và quốc tế. Thế nhưng, những chuyến đi vẫn chủ yếu dừng ở quy mô khảo sát hoặc thử nghiệm, chưa trở thành tour thương mại đón khách thường xuyên.
Đến tháng 2/2025, ý tưởng tiếp tục được khơi lại khi lãnh đạo Uông Bí thời điểm đó cùng doanh nghiệp nghiên cứu phương án đưa khách vào hai cửa lò tại Vàng Danh, được khai thác từ năm 1964.
Quảng Ninh trước đó cũng từng thí điểm đưa du khách tham quan một mỏ lộ thiên tại khu vực Hạ Long nhưng sau đó dừng hoạt động.
Sau hơn một thập kỷ, tiềm năng của sản phẩm du lịch mỏ than vẫn còn nguyên. Điều chưa thay đổi là sản phẩm này chưa vượt qua giai đoạn nghiên cứu ý tưởng.
Biến cửa lò thành điểm đến tham quan
Sức hấp dẫn của du lịch mỏ than nằm ở việc đưa du khách tiếp cận một thế giới sản xuất vốn khép kín. Tuy nhiên, đây cũng là loại hình đòi hỏi yêu cầu cao về an toàn, kỹ thuật và tổ chức vận hành.
"Nếu đưa khách vào mỏ đang khai thác, cần tách biệt hoạt động du lịch với dây chuyền sản xuất. Kiểm soát khí mỏ, thông gió, nguy cơ cháy nổ cùng hoạt động của các thiết bị. Đơn vị vận hành cũng phải xây dựng phương án cứu hộ, bảo hiểm, giới hạn lượng khách và quy định rõ những trường hợp đủ điều kiện xuống lò", ông Đinh Văn Hải, chuyên gia phát triển tour du lịch trải nghiệm khu vực miền Bắc nêu ý kiến.
Cũng theo ông Hải, tại các khai trường lộ thiên, xe vận tải trọng tải lớn, máy xúc cùng nguy cơ sạt trượt tầng khai thác là những yếu tố phải được tính toán. Điểm ngắm khai trường cần nằm ngoài khu vực sản xuất nguy hiểm nhưng vẫn đủ gần để du khách quan sát được quy mô hoạt động khai thác than.
Đối với những cửa lò hoặc khai trường đã dừng hoạt động, bài toán lại nằm ở việc gia cố công trình, xử lý môi trường, quản lý đất đai, tài sản và chuyển đổi công năng. Không gian mỏ sau khai thác chỉ có thể đón khách khi đáp ứng đầy đủ yêu cầu an toàn và có đơn vị chịu trách nhiệm vận hành lâu dài.
Quảng Ninh hiện không thiếu những địa điểm có khả năng hình thành tuyến du lịch di sản ngành than mà chưa nhất thiết phải đưa khách vào khu vực đang sản xuất.
Cụm cầu trục Poóc-tích số 1 tại Cửa Ông, Miếu Mỏ và địa điểm khai thác than đầu tiên tại Mạo Khê, lò giếng đứng Mông Dương, trụ sở cũ của Công ty Pháp mỏ than Bắc Kỳ tại Hòn Gai cùng các cửa lò cũ đều mang những câu chuyện riêng.
Nếu được kết nối, các địa điểm này có thể kể lại quá trình hình thành ngành khai khoáng, đời sống của nhiều thế hệ thợ mỏ và cuộc tổng đình công của hơn 3 vạn công nhân Vùng mỏ năm 1936. Đây là lớp giá trị mà một chuyến tham quan khai trường đơn thuần khó truyền tải đầy đủ.
Sản phẩm có thể được triển khai theo từng bước, trước hết hình thành tuyến di sản công nghiệp trên mặt đất, kết nối bảo tàng, công trình lịch sử, nhà máy tuyển than và những cửa lò cũ. Các đường lò phù hợp chỉ mở cửa ở quy mô hạn chế sau khi hoàn thiện điều kiện kỹ thuật, cứu hộ và bảo hiểm.
Sau hơn một thập kỷ, Quảng Ninh vẫn còn đó những mỏ than, công trình lịch sử hay câu chuyện có khả năng hấp dẫn du khách. Khoảng trống lớn nhất vẫn là một phương án đủ an toàn, hấp dẫn và khả thi để đưa “du lịch mỏ than” từ ý tưởng thành sản phẩm thực sự.