Trích đoạn chuyện đánh - đàm Ba Lê (Kỳ cuối)

Trích đoạn chuyện đánh - đàm Ba Lê (Kỳ cuối)
TP - Cú điện thoại khuya khoắt vào một đêm đã xa giờ nghĩ lại còn hơi bị bàng hoàng chống chếnh. Một nhân chứng sát sạt cụ thể gần như từng ngày của cuộc hòa đàm Ba Lê không còn nữa...

> Bài 2: Ủy ban giải Nobel đã sai lầm đáng tiếc
> Trích đoạn chuyện đánh - đàm Ba Lê

Cuộc gặp bí mật

Người mà có lẽ ai cũng nhìn thấy, đã đành chả biết mà cũng thoáng quên ngay mỗi khi ngó đến bức ảnh chụp có khi ba người, khi nhiều người bên cạnh Cố vấn Lê Đức Thọ và Kissinger, người mà cả hai đều cần.

Không hiểu sao tôi nghĩ ngay căn nhà như lọt thỏm trong hẻm nhỏ gần Văn Miếu. Và đến cái kính hơi bị lạ của ông trong căn phòng bề bộn sách vở. Nó na ná như thứ kính lúp.

Dày quá đít chai. Độ dày ấy mới có sức soi, phóng lên những hàng chữ li ti trong một tài liệu hay cuốn từ điển. Năm ấy ngoại thất tuần, mắt ông đã kém tợn.

Nhưng không ngày nào rời bàn, trừ những ngày ốm mệt. Ông chăm, ham việc lắm. Vẫn viết lách biên dịch theo những com măng nào đó của Bộ Ngoại giao.

Thuở ấy mắt ông Nguyễn Đình Phương còn tinh dù đã phải mang kính cận. Nguyễn Đình Phương, cái tên như "lọt thỏm" trong bể sự kiện cuộc hòa đàm Ba Lê.

Cũng phải thôi, hình như ít khi "sử" chép người phiên dịch trong những sự kiện trọng đại!? Ông không chỉ là phiên dịch mà còn là người trực tiếp chứng kiến một sự kiện hiếm hoi trong những trang sử ngoại giao kiệt xuất của nước Nam ta: Phiên dịch chính cho những cuộc đàm phán những cuộc gặp riêng giữa Xuân Thuỷ và Harriman và sau đó là các cuộc gặp riêng giữa Lê Đức Thọ và Kissinger suốt từ năm 1968 cho đến mùa xuân năm 1973!

Đặt chân đến kinh thành ánh sáng, hồi ấy ông mới ngoại tứ tuần cao lớn đường bệ, nhiều người nhầm ông là người ngoại quốc bởi có những nét hao hao...

Buổi trưa 3-6-1968 đến Paris, buổi chiều báo France Soir (Nước Pháp buổi chiều) có bài tường thuật trong bộ quần áo giản dị, ông Lê Đức Thọ có nụ cười của La Joconde...

Và đến Paris, ông mới biết bên cạnh diễn đàn chính của Hội nghị Paris, một diễn đàn mới bí mật đã xuất hiện. Đó là các cuộc gặp riêng giữa Việt Nam và Hoa Kỳ. Mỗi bên chỉ một hai người , địa điểm gặp thường xuyên thay đổi và tuyệt đối giữ bí mật!

Người phiên dịch cao niên dẫn tôi về với cuộc gặp bí mật ngày 21-8-1968 giữa Xuân Thuỷ, Lê Đức Thọ với Harriman mà ông là phiên dịch chính sau 18 phiên họp công khai và 4 cuộc tiếp xúc riêng.

Đối diện Xuân Thuỷ, Lê Đức Thọ là Harriman nhà ngoại giao kỳ cựu của Mỹ nổi tiếng, là người thương lượng sành sỏi. Ấn tượng nhất là Bộ trưởng Xuân Thuỷ lúc nào xuất hiện và tất cả mọi trường hợp là nụ cười luôn nở rất tươi nhưng hôm đó nụ cười của Bộ trưởng đã tắt sau cú đấm đánh thình xuống mặt bàn.

Đó là khi Harriman đơn phương đòi có đại diện của Sài Gòn trong đàm phán. Khi bị từ chối thẳng thừng, Harriman đã dọa bom sẽ lại rơi trên đầu các ông! Xuân Thủy mặt nghiêm, giọng đanh lại "Ông dọa đấy à? Ném bom trở lại à? Chúng tôi sẵn sàng đánh lại!".

Lê Đức Thọ bình tĩnh hơn "Ông dọa bằng chiến tranh không được đâu! Chúng ta đã đánh nhau nhiều năm rồi còn lạ gì nhau...". Harriman ngồi lặng đi một lát rồi lẩm bẩm: "Tôi rút cái câu nói bom lại rơi trên đầu các ông...".

Người lính già đã qua 5 năm đánh và đàm ở "mặt trận" ngoại giao Paris ấy nở một cái cười sảng khoái... cặp Lê Đức Thọ - Xuân Thuỷ quả là lợi hại. Lúc Xuân Thuỷ "nhu" thì Lê Đức Thọ "cương" và ngược lại.

Lê Đức Thọ đa phần là "cương", nhưng cái cương không bao giờ bị gẫy vì đúng lúc vì có lý!". Tôi hỏi ông, Lê Đức Thọ "cương” như thế nào, thì ông cười, chậm rãi, có người nói Lê Đức Thọ gặp Kissinger là ngang sức ngang tài, nhưng có lẽ Kissinger đã đánh giá nhầm Lê Đức Thọ như sau này trong hồi ký mà ông ta đã viết...

Nói đến đây, ông lật cho tôi một trang "Thêm một lần nữa tôi đã đánh giá thấp Lê Đức Thọ. Ông có lối nhào lộn ngoại giao duyên dáng. Ông không hề lay chuyển trong cách định nghĩa khu phi quân sự..." và "Tóc hoa râm, đường bệ...

Lê Đức Thọ bao giờ cũng mặc bộ đại cán hoặc marông đôi mắt to và sáng ít khi để lộ sự cuồng tín đã thúc đẩy ông hồi 16 tuổi đi theo phong trào du kích cộng sản chống Pháp...

Lê Đức Thọ tiếp tôi với một sự lễ phép có khoảng cách của một người mà ưu thế hiển nhiên đến mức không thể làm khác được bằng một kiểu lễ phép gần như hạ cố...".

Có một chi tiết chắc Kissinger không ghi vào hồi ký là ngón tay đeo nhẫn của Lê Đức Thọ cứ bóng sáng và nổi bật lên chiếc nhẫn gò từ mảnh xác máy bay Mỹ bị bắn rơi trên miền Bắc! Ông đang tâm sự với tôi ấn tượng về cái ngày mồng 8-1-1973 khi bàn đàm phán Paris được nối lại sau trận Điện Biên Phủ trên không.

Như mọi người đã biết, sau cú lật lọng của Mỹ nên Hiệp định đã hoàn tất ngày 20-10-1972 đã không được ký kết. Mỹ muốn xóa bỏ Hiệp định và ý đồ bắt ta phải thay đổi nhiều điều khoản bằng việc bất ngờ dùng B52 tập kích Hà Nội, Hải Phòng.

Trong 12 ngày đêm ác liệt máu lửa ấy, cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ đã có mặt trong căn hầm đặc biệt ở ngay trong sân rồng ở Điện Kính Thiên cùng làm việc với Bộ Chính trị... Ba ngày đêm liền Cố vấn bị sốt cao.

Cơn thịnh nộ của ông Thọ

Ông Lê Đức Thọ và Kissinger ở Saint-Nom-La-Breteche, Pháp tháng 6-1973. Người mang kính đứng sát ông Thọ là Nguyễn Đình Phương. Ảnh: Getty Images
Ông Lê Đức Thọ và Kissinger ở Saint-Nom-La-Breteche, Pháp tháng 6-1973. Người mang kính đứng sát ông Thọ là Nguyễn Đình Phương. Ảnh: Getty Images.

Trở lại Paris sáng 8-1-1973 trên đường đến chỗ họp ở Gifsur Yvette, Cố vấn Lê Đức Thọ kéo ông ra một góc: "Hôm nay toàn đoàn ta không thèm ra cửa đón đoàn Mỹ như thông lệ nữa. Và hôm nay mình sẽ nói mạnh đấy. Mình nói thong thả và cậu cố dịch theo đúng tinh thần".

Dù đã được dặn trước và đã trực tiếp chứng kiến hàng chục lần Lê Đức Thọ "cương" (quyết liệt, dai dẳng, kiên trì và cả nổi nóng.

Chắc đối phương cũng không ít lần nhầm vì Lê Đức Thọ với sắc mặt bừng đỏ! Ông Cố vấn vốn bị huyết áp cao, nhiều lần đoàn ta thảo luận trong phòng mật anh em đã phải tắt điều hoà mở cửa ra và thường bàn những thứ "đại sự" ở ngoài trời lúc đi dạo) nhưng chưa bao giờ ông thấy Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ trút cơn thịnh nộ lên đối phương như buổi sáng xuân Paris ấy! Lừa dối, ngu xuẩn, tráo trở, lật lọng...

Thôi thì đủ cả! Kissinger, "đạo diễn" chính của cuộc thảm sát bằng B52 với dân lành Khâm Thiên, An Dương... chỉ biết cúi đầu đứng nghe.

Mãi sau ông ta mới lắp bắp: "Tôi có nghe thấy những tính từ... Tôi xin không dùng những tính từ đó ở đây. Xin ông Cố vấn nói khe khẽ thôi không các nhà báo ngoài kia nghe được lại đưa tin là ông mắng chúng tôi!".

Kissinger một lần đã tò mò hỏi Lê Đức Thọ trong mấy phút nghỉ giải lao: "Bây giờ ông Cố vấn đàm phán với tôi, nói như mắng tôi. Thế còn sau này kết thúc đàm phán chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình rồi, ông Cố vấn mắng ai? Ngài có mắng cán bộ của mình như mắng tôi không?".

Lê Đức Thọ điềm nhiên: "Xin Ngài chớ nặng lời lúc tôi trình bày với Ngài. Tôi chỉ nói lên tiếng nói của nhân dân tôi thôi. Cán bộ của tôi có quay quắt lật lọng tráo trở đâu mà tôi phải mắng!".

Tôi hỏi người lính già trong trận đàm đánh ở Paris ấy, cuộc nào là "căng" nhất thì ông cười "cuộc nào mà chả căng! Anh em trong đoàn đàm phán nói vui là đoàn có ông Sáu Thọ, thọ là lâu dài lại có ông phó đoàn Hà Văn Lâu, cũng là lâu dài nên nhiệm vụ ở Paris phải là trường kỳ kháng chiến?!".

Nhưng có một cuộc, theo ông là "căng" nhất. Đó là phiên hai bên soạn thảo những điểm cơ bản trong Hiệp định, vào ngày 11-10-1972. Từ 9 giờ sáng 11 kéo một mạch đến 2 giờ sáng hôm sau mà như Kissinger đã ghi trong hồi ký "nói là thương lượng một mạch 16 giờ liền nhưng trên thực tế là 22 giờ đồng hồ".

"Quân" của cả hai bên thi thoảng phải ra ngoài dùng cà phê đặc hoặc hút thuốc, nhưng, Lê Đức Thọ trừ những lúc đi vệ sinh, liên tục ngồi đấu lý với Kissinger!

... Căn phòng ngủ kiêm nơi làm việc tiếp khách của người lính già trong trận đánh - đàm Paris năm ấy có vẻ hơi bề bộn. Các loại sách tài liệu, thứ tiếng Anh, thứ tiếng Pháp từ trên giá tràn xuống, đậu chi chít trên hai chiếc ghế lớn ghép lại được coi là bàn.. Lọt thỏm trong đám sách vở giấy tờ là chiếc máy chữ chuyên gõ tiếng Anh kiểu cổ chỉ bằng khổ chiếc điện thoại để bàn.

Thứ bề bộn của những người lấy sự mê say công việc làm trọng và thứ nữa, thiếu vắng bàn tay chăm sóc của người vợ thân yêu... Xong Hội nghị Paris, ông về công tác ở Bộ Ngoại giao.

Đang ở cương vị Vụ trưởng Tây Bắc Âu, ông được kiêm thêm chức bằng việc làm đại sứ kiêm nhiệm ở các nước Bắc Âu gồm Thuỵ Điển, Đan Mạch, Na Uy, Iceland...

Giữa những năm 1980, ông về đưa vợ sang theo tiêu chuẩn vì bao năm vợ chồng ông cứ biền biệt... Vợ ông bảo chồng cứ sang trước còn mình thu xếp việc nhà ít bữa nữa sẽ qua.

Có ai ngờ một trận cảm nặng đã cướp mất bà. Từ ấy đến lúc về hưu năm 1992, ông cứ vò võ như thế. May mà tổ ấm của 4 người con, hai trai với hai gái cùng 7 đứa cháu đã giúp ông trụ lại trong cái thành phố ràn rạt những người là người này...

Chứng nhân lịch sử Nguyễn Đình Phương mất ở tuổi quá bát thập.

Cùng chuyên mục

Anh Lưu Quang Hà bên sản phẩm bê tông nghệ thuật của Công ty

'Chúa chổm' xứ Tuyên đúc nên cơ nghiệp

TP - Lưu Quang Hà vừa rời giảng đường đại học, bước chân khởi nghiệp liền bị quỵt tiền, phải vay nặng lãi để sống. Ở nhà, bố mắc ung thư phổi, gia đình khánh kiệt, khiến anh Hà nhiều đêm bật khóc. Nhưng rồi, anh đứng dậy, gây dựng công ty chuyên làm sản phẩm bê tông nghệ thuật – ngành nghề mà anh được học, doanh thu tiền tỷ, tạo việc làm cho gần 20 lao động. Anh còn là Bí thư Chi đoàn ở tổ dân phố.

Công an cơ sở tuyên truyền, vận động người dân xóa bỏ hủ tục nghi kỵ “cầm đồ thuốc độc” Ảnh: NN

'Bóng ma đồ độc' ám ảnh vùng cao Quảng Ngãi

TP - Ở một số bản làng miền núi Quảng Ngãi, hủ tục nghi kỵ “cầm đồ thuốc độc” vẫn âm ỉ tồn tại, len vào những mâu thuẫn đời thường, những cơn bệnh chưa được lý giải bằng khoa học. Từ một lời phán của thầy cúng, hàng xóm có thể thành kẻ thù, người vô tội bị cô lập, đánh đập, thậm chí mất mạng.

Cán bộ Trạm Y tế xã Buôn Đôn đi bộ đến từng hộ dân tại buôn Đrăng Phốk để tiêm vắc xin cho trẻ

'Cõng' vắc xin tìm trẻ giữa đại ngàn

TP - Không để người dân vất vả đưa con đến trạm y tế, vào ngày 16 hằng tháng, cán bộ y tế xã vùng xa tỉnh Đắk Lắk vượt hơn 20km đường rừng đều đặn mang vắc xin vào tận buôn. Chuyến đi của họ đã mang thêm một lớp bảo vệ đến với những đứa trẻ nơi vùng lõi rừng, từng ngày rút ngắn giữa dịch vụ y tế và người dân.

Giếng cổ được người dân tự hào giới thiệu với khách đến thăm đảo

Bí ẩn giếng cổ ở xã đảo Đà Nẵng

TP - Giữa vùng biển đảo quanh năm nắng gió, nơi từng giọt nước ngọt quý hơn vàng, hai giếng cổ dưới chân núi Bàn Than ở Tam Hải vẫn trong veo, mát lành qua hàng trăm năm.

Cựu chiến binh Nguyễn Duy Kháng và cô giáo HươngẢnh: Lê Văn Chương

Những người lính ở lại núi Dàng-Bài cuối: Trái tim cô giáo trẻ dành trọn tiếng "tít te"

TP - Tháng 2/1970, bên dòng sông Vệ (Hành Thịnh, Quảng Ngãi), những chiếc HU-1A còn gọi là tàu rọ liên tục quần đảo, gầm rít trên bầu trời. Giữa khói lửa chiến tranh, trái tim một cô giáo trẻ lại bị cuốn vào âm thanh “tít te” không ngừng của một cậu lính thông tin quê Thái Bình. “Cái này bí mật, không thể giải thích” – chàng lính Nguyễn Duy Kháng mỉm cười nói với cô giáo Nguyễn Thị Thanh Hương về công việc của mình.

Cựu chiến binh Lại Vũ Yên và bà Nguyễn Thị Bè, mối tình và đám cưới trong chiến tranh, giờ đây đã hơn 50 năm Ảnh: Lê Văn Chương

Những người lính ở lại núi Dàng-Bài 2: Mối tình người lính quân y và nữ du kích

TP - Trước năm 1975, địch xem xã Hành Thịnh là một trong những cái gai rất khó nhổ. Bởi đây là một xã đồng bằng của Quảng Ngãi nhưng lại có rất nhiều ngọn núi: núi Dàng, núi Đuôi Chuột, núi Rố, núi Gò Đồn, núi và rừng Ông Đương, gò Rú. Địa thế hiểm trở vốn là lợi thế của quân giải phóng và là vùng đất chết đối với quân đội chính quyền Sài Gòn. Y sĩ Lại Vũ Yên đã trải qua những ngày gian nan tại đây, sau đó kết hôn với cô du kích…

 Ông Trương Minh Hải, Tổ trưởng Tổ cộng đồng bảo vệ nguồn lợi thủy sản phường Hồng Ngự chăm sóc đàn cá tự nhiên Ảnh: Hoà Hội

'Ngôi nhà' của đàn cá trên sông Tiền

TP - Xuất phát từ ý tưởng giữ cá lại với dòng sông, người dân vùng đầu nguồn Hồng Ngự (Đồng Tháp) đã biến đoạn bờ kè bình dị thành “bến đỗ an toàn” của đàn cá hàng nghìn con. Cá được cho ăn, bảo vệ và sinh trưởng tự nhiên. Mô hình độc đáo này không chỉ góp phần bảo vệ nguồn lợi thủy sản mà còn đánh thức tình yêu thiên nhiên trong cộng đồng.

Chiến dịch 500 ngày đêm đang được tổ chức tại nghĩa trang liệt sĩ Hành Thịnh, xã Đình Cương. Trong số các liệt sĩ nằm lại, có nhiều người là đồng đội của vợ chồng ông Tân Ảnh: Lê Văn Chương

Những người lính ở lại núi Dàng: Mối tình lính DKB và cô y tá

TP - Cách đây hơn nửa thế kỷ, khi đất nước hòa bình, hầu hết những người lính gác lại súng gươm để trở về với quê nhà, mang theo ký ức của một thời hoa lửa. Thế nhưng, tại xã Hành Thịnh (nay là xã Đình Cương) nằm dưới chân núi Dàng- vùng căn cứ cách mạng của Quảng Ngãi, vẫn có những người lính ở lại. Đầu tháng 9 này, họ đang lặng lẽ dõi theo từng nhát cuốc của Đội tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ đang thực hiện Chiến dịch 500 ngày đêm.

Phiên chợ Sâm Ngọc Linh và dược liệu được tổ chức đều đặn mỗi tháng ở phố du lịch sầm uất của Đà Nẵng Ảnh: Giang Thanh

Quà quê kể chuyện Đà Nẵng

TP - Một tấm chiếu cói kể chuyện làng nghề, chai tinh dầu kể chuyện vùng dược liệu hay món đặc sản kể chuyện miền quê. Khi những món “quà quê” được đặt trong không gian trải nghiệm du lịch, câu chuyện về Đà Nẵng có cơ hội chạm vào du khách và theo họ đi xa hơn.

Gom rác đổi cháo sáng

Gom rác đổi cháo sáng

TPO - Từ những chai nhựa, vỏ lon, giấy vụn được gom lại từ mỗi gia đình, người dân xã Nghĩa Giang (tỉnh Quảng Ngãi) có thể đổi lấy cháo nóng. Những thứ từng bị xem là rác bỏ đi đang được biến thành nguồn quỹ để sẻ chia với người khó khăn.

Khát vọng hồi sinh nghề xưa của người trẻ Quảng Ngãi

Khát vọng hồi sinh nghề xưa của người trẻ Quảng Ngãi

TP - Từ những luống dâu ven sông Trà Khúc đến lò mật mía đỏ lửa, nhiều người trẻ ở Quảng Ngãi đang tìm cách đưa nghề truyền thống trở lại đời sống bằng tư duy mới. Không chỉ giữ nghề của cha ông, họ còn từng bước biến những giá trị văn hóa thành sản phẩm hàng hóa, tạo sinh kế và mở ra hướng phát triển mới cho quê hương.

Cồn Thanh Long trước lựa chọn nghiệt ngã: Giữ cồn hay đưa dân vào bờ?

Cồn Thanh Long trước lựa chọn nghiệt ngã: Giữ cồn hay đưa dân vào bờ?

TPO - Từ câu chuyện chực chờ bị ‘xóa sổ’ của cồn Thanh Long ở Vĩnh Long do sạt lở đã ngoài tầm kiểm soát, cho thấy giải pháp chống sạt lở cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long đang trở nên cấp bách, tốn kém. Đặc biệt, việc giảm khai thác cát sông đang ngày càng cần thiết để giảm sạt lở, xâm thực đất đai trù phú của vùng đồng bằng này.

Concert Thanh xuân thu hút khoảng 2 vạn bạn trẻ Ảnh: Như Ý

Chạm vào kí ức

TP - Vệt nắng chiều lóa trên những huân chương của cha nơi bức tường cũ, bừng lên trong tôi màu bất diệt của thanh xuân - sự tận hiến mãi mãi tuổi đôi mươi mà thời gian là kẻ đứng rìa. Và đêm nay, giữa sóng cuộn của tuổi trẻ, một lần nữa tôi cúi đầu tri ân. Đó là giai điệu giao hòa mang tên tình yêu Tổ quốc trong đêm Thanh xuân…

Mùa sạt lở bên dòng Cửa Lớn

Mùa sạt lở bên dòng Cửa Lớn

TPO - Mỗi mùa mưa, lũ về, những hộ dân sống ven sông Cửa Lớn, đoạn qua xã Đất Mới, tỉnh Cà Mau lại phải sống thấp thỏm với sạt lở. Có căn nhà bị “hà bá” nuốt trọn chỉ trong một đêm, có con đường bị dòng nước ngoạm mất, người dân phải tự tháo dỡ nhà, dựng cầu tạm để có lối đi.

Huyền thoại võ sáo dưới bóng trăng Phồn Xương

Huyền thoại võ sáo dưới bóng trăng Phồn Xương

TP - Dưới bóng trăng Phồn Xương, tiếng sáo sắt “Thiết địch thần phong” từng gắn với những năm tháng khởi nghĩa Yên Thế (tỉnh Bắc Ninh), nay đang được đánh thức, đưa võ sáo từ ký ức lịch sử trở thành di sản phát triển du lịch.