Mùi…chiến tranh
Đổ hết đèo Chư Sê, đi tầm chục cây số sẽ tới xã Phú Thiện, tỉnh Gia Lai, nơi cựu binh Phạm Thanh Chung (cựu Đại đội trưởng Đại đội 9, 10, 11 - Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 95, Sư đoàn 307, Quân khu 5) sống trong căn nhà cấp 4. Người lính chiến giờ đã ngoài 60 vượt qua bao hiểm nguy giờ gần gũi, hiếu khách. Cựu binh ấy giờ còn một mệnh lệnh từ trái tim đó là cùng đồng đội cũ tổ chức, làm các lễ cầu siêu cho anh em ngã xuống nơi đất khách, quê người.
Năm 1982, cũng như bao chàng trai khác ở tỉnh Phú Yên, ông lên đường nhập ngũ. Cuộc hành quân vượt 800 cây số cả đi xe và đi bộ. Lần đầu tiên chàng trai 18 tuổi tận mắt ngắm nhìn con sông Mê Kông mênh mông hùng vĩ đổ nước về hạ nguồn. “Cánh quân nhập ngũ năm đó mỗi đứa mỗi nơi trở về đơn vị, trở thành những người lính trận mạc trong sự dìu dắt của lớp đàn anh đi trước, bắt đầu cuộc chiến với đội quân Pol Pot hiếu chiến, tinh ranh, độc ác nhất”, ông Chung hồi tưởng.
Ông được biên chế về Sư đoàn 307 đóng quân ở khu vực đền Preah Vihear, bảo vệ nơi đây khỏi Pol Pot. Nơi đây có dãy núi Dangrek dài hàng trăm cây số án ngữ, trở thành bức trường thành biên giới giữa nước Campuchia và Thái Lan, được quân Khmer Đỏ chọn đặt bộ chỉ huy đầu não. Vì thế, tại khu vực này, Sư đoàn 307 liên tục đụng độ với Pol Pot.
Mấy tuần sau, khi tham gia trận đánh “cứ điểm 547” ngày 27/1/1983, chàng trai chưa biết “mùi đời” mới hiểu thế nào là chiến tranh, mạng sống đối diện. Sau mỗi trận đánh chiến sĩ trẻ dày dặn hơn theo vòng xoáy cuộc chiến. Ông Chung kể, những cứ địa mà đơn vị từng tham chiến như: Điểm cao 547, cứ điểm Cụt 677, Ngã ba Biên, căn cứ Pa Na Kon Tung, Cao điểm 606 nơi có ngôi đền linh thiêng Preaha Vihear, chiến dịch núi Hồng, các điểm cao 300, 428, 600 Tây, 600 Đông…
Trên chiến trường, nhu cầu tối thiểu nhất của con người để ở số âm. “Rau xanh rất xa xỉ với lính chiến. Vốc đất lên tay cũng là sỏi đá, mảnh vụn sắt thép. Hồi ấy, mỗi ngày 40 người chỉ được cấp một hũ mắm thịt tầm 4 lạng, đổ nước sôi vào chia ra dùng cả ngày. Xót ruột nên thèm rau lắm. Mà năm tháng đó, bộ đội mình không được đụng vào bất kỳ thứ gì của dân, kể cả thú rừng bên Campuchia”, ông Chung nhớ lại.
Kỷ niệm chiến trường
Tháng 5/1987, sau thời gian nghỉ phép, ông Chung trở lại chiến trường. Khi đó đơn vị của ông đã ra đóng quân tại ngã ba thị xã Tà Pen. Vượt qua sông Sen êm đềm, cuốc bộ hơn mười mấy cây số ông về tới đơn vị. Lúc này, ông là đại đội trưởng Đại đội 10. Việc đầu tiên là đi tới từng doanh trại bắt tay đồng đội, rồi nắm lại quân số, vũ khí và sự phòng thủ nơi này. Đây là điều vô cùng quan trọng đối với một đội hình mỏng, lạnh lưng hở sườn, đứng chân độc lập một mình như một tiền đồn từ xa bảo vệ cho đội hình Trung đoàn.
“Ở đây chúng tôi phải bám dân nhằm mục đích lên phương án tác chiến trong kế hoạch phòng thủ. Bởi nếu địch đánh vào hướng không có dân thì ta dùng hoả lực, xung lực phản kích lại, còn hướng có dân ta sẽ xử lý theo kiểu khác nhằm hạn chế thấp nhất sự thương vong đối với dân” ông Chung nói.
Có lần chiến sĩ trẻ ghé một nhà dân xin nước uống, thấy cô bé Khơ Me tầm mười tám tuổi chỉ biết hỏi bằng tiếng Việt kèm với ra dấu, em cười và đem nước ra cho uống. Một lúc sau chị của cô bé đó về, gương mặt và dáng dấp xinh đẹp. “Em nhìn chúng tôi nở một nụ cười thiện làm trái tim tôi rung động. Thật bất ngờ khi một câu tiếng Việt khiến trái tim ai cũng tan vỡ”!, ông Chung nhớ.
“Anh Chung là một trong những chỉ huy có năng lực suốt những năm tháng ở chiến trường, tỏ rõ bản lĩnh, tinh thần đồng cam cộng khổ. Về với đời thường anh tâm huyết đứng ra vận động tổ chức lễ cầu siêu cho những đồng đội đã ngã xuống; vận động đóng góp nguồn lực cho Quỹ Nghĩa tình đồng đội”.
Ðại tá Vương Hữu Quyên - nguyên Phó Chủ nhiệm Chính trị Trung đoàn 95
(Sư đoàn 307), nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Ðảng ủy Quân khu 5
Hai chị em dẫn ông Chung đến nơi mà mùa khô dù có hạn đến đâu, nơi này vẫn có nước. Có nước, mọi sự công thủ của đội công tác sẽ vô cùng thuận lợi. Về sau, ông Chung thường ghé ngôi nhà ấy nhiều hơn. Dần dần ông Chung mới biết cô gái đó tên Khương với đôi mắt to đen, mi cong vút đượm buồn. Tự lúc nào không biết, ông Chung và Khương yêu nhau. Lần đầu người lính chiến dạn dày trận mạc biết bồi hồi, thương nhớ. Mỗi lần lên Tiểu đoàn họp, chàng trai hay ghé lại chợ mua cho em những hộp phấn Thái Lan trang điểm, một mặt hàng xa xỉ của chị em lúc ấy.
Yêu thương nhau lúc đó phải hết sức bí mật. Ông Chung sợ nhất là Pol Pot biết sẽ tìm cách giết hại gia đình em. Tình yêu trong sáng vượt rào cản dân tộc, ngôn ngữ, văn hoá. Nhưng cuộc chiến đã không cho phép mối tình tiếp diễn.
Trở về Việt Nam, ông ra quân, về nhà làm “thợ đụng” để mưu sinh. 10 năm sau ông lập gia đình, chồng làm nghề lái xe máy xúc, máy ủi công trình, vợ mua bán nhỏ vun vén gia đình.
Bằng quyết tâm, ý chí của người lính, giờ con gái đầu đã tốt nghiệp Đại học Ngoại ngữ Tokyo (Nhật Bản), con trai đang học đại học. Ông quả quyết: “Tôi luôn cố gắng sống tốt với tất cả mọi người. Thời lính tôi sẵn sàng hy sinh vì đồng đội. Giờ tôi phải sống tốt với phần đời còn lại mà đồng đội đã hy sinh, dành phần cho tôi”.
Viết sách trên giường bệnh
Số phận thử thách người lính thêm một lần nữa khi năm 2022, ông Chung bị bệnh K dạ dày, giữa lúc thể xác đau đớn ông đã viết 42 bài về “Ký ức người lính Preah Vihear” (Nhà xuất bản Đà Nẵng) tại Bệnh viện Ung bướu TP.Hồ Chí Minh khiến đồng đội không khỏi mến phục. Bài viết của tác giả phản ánh trận đánh cam go, gian khó một cách chân thực để mọi người hiểu hơn về đời lính.
Tất cả những bài viết đều được ông gõ cọc cạch trên…điện thoại trong thời gian xạ trị, lúc thể xác đau đớn, ông viết cho quên đi sự hành hạ của bệnh tật. “Những tưởng bệnh K là sẽ chết nhưng tôi là kỳ tích, sau bao năm tôi giờ vẫn rất khoẻ. Hình như đồng đội lại cho tôi sống thêm một lần nữa để viết về ký ức bão lửa ấy. Đây không chỉ là ký ức của người lính về chuyện lính nơi chiến trường, tập nhật ký còn là những tư liệu mà tôi trực tiếp trải qua”, ông Chung chia sẻ.
Trở về cõi chết thêm lần nữa, giờ đây cựu binh ấy cứ lặng lẽ đi tìm mộ liệt sĩ, cùng đồng đội làm lễ cầu siêu cho những anh linh đã nằm xuống cho quê hương.