Khuyến khích phân loại rác
UBND TPHCM vừa ban hành quy định về giá cụ thể đối với dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) trên địa bàn TPHCM. Theo đó, mức giá được xác định theo khu vực, đối tượng và lượng chất thải, áp dụng từ ngày 1/9/2026 đến hết ngày 30/6/2027.
TPHCM được chia thành 8 nhóm khu vực, gồm các địa bàn thuộc TPHCM, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu cũ và đặc khu Côn Đảo với mức giá khác nhau.
Theo đó, cơ quan, tổ chức, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ phát sinh không quá 300 kg rác/ngày được lựa chọn quản lý như hộ gia đình hoặc chủ nguồn thải lớn. Với lượng trên 250 - 500 kg/tháng tại khu vực đô thị TPHCM cũ, mức thu gom và vận chuyển là 250.000 đồng/tháng, trong đó thu gom 182.000 đồng, tăng gần 12% so với trước. Lượng trên 500 kg đến dưới 9 tấn/tháng được tính tiền thu gom 453 - 486 đồng/kg (tùy khu vực).
Hộ gia đình chưa phân loại rác vẫn trả theo số nhân khẩu; tại khu vực đô thị TPHCM cũ là 42.000 đồng/tháng với hộ từ 2 người trở xuống và 84.000 đồng với hộ từ 3 người.
Hộ phân loại rác đúng được tính phí theo khối lượng, tổng thu gom và vận chuyển là 666 đồng/kg. Khối lượng được xác định bằng cân trực tiếp hoặc quy đổi từ dung tích thùng, túi chứa. Các mức giá chưa gồm VAT và chưa thu riêng tiền xử lý đối với hộ dân, chủ nguồn thải nhỏ quản lý theo hình thức hộ gia đình.
Cách tính mới này gắn chi phí với lượng rác, tạo thêm động lực để người dân và các cơ sở kinh doanh phân loại, giảm rác ngay từ nguồn.
Sau sáp nhập, TPHCM phát sinh gần 14.000 tấn chất thải rắn sinh hoạt mỗi ngày, trong đó khu vực TPHCM cũ hơn 10.000 tấn, Bình Dương khoảng 2.400 tấn và Bà Rịa - Vũng Tàu khoảng 1.100 tấn. Phần lớn rác vẫn được thu gom hỗn hợp, chưa phân loại tại nguồn.
Nên đăng ký khối lượng rác
Ngày 20/8, trao đổi với PV báo Tiền Phong về phương thức tính phí và phân loại rác, TS Phạm Viết Thuận, Viện trưởng Viện Kinh tế tài nguyên và môi trường TPHCM cho rằng, không nên áp dụng phương thức định lượng bằng cách cân rác trực tiếp. Lý do vì việc này rất phiền phức và khó khả thi trong thực tế.
Theo ông Thuận, cấu trúc đô thị đặc thù của Việt Nam chủ yếu là nhà liền kề nằm sát nhau. Nếu đặt thùng rác cạnh nhau và tiến hành cân ký thì rất dễ xảy ra tình huống nhà này lén bỏ rác sang nhà khác, từ đó dẫn đến mâu thuẫn gay gắt giữa các hộ gia đình.
“Tôi cho rằng chúng ta có thể áp dụng phương thức định tính kết hợp với hồ sơ đăng ký khối lượng rác thải hàng ngày cho từng hộ gia đình dựa trên dữ liệu dân cư sẵn có” - TS Thuận nói.
Theo đó, các hộ dân, chủ nhà trọ hoặc cơ sở kinh doanh như nhà hàng sẽ tự kê khai và đăng ký theo các mức khối lượng nhất định, ví dụ như mức từ 1 - 2 kg, hoặc từ 2 - 5 kg.
Đối với các trường hợp đặc thù như hộ gia đình sở hữu nhiều căn nhà nhưng chỉ sinh sống tại một nơi, nhà trống hoặc phòng trọ, việc cho phép đăng ký mức không có rác thải sẽ tránh được tình trạng thu phí vô lý hay cào bằng như thực tế hiện nay. Số liệu đăng ký của người dân sẽ được chuyển về cho lực lượng thu gom để làm cơ sở đối chiếu thực tế.
Trong quá trình thu gom hàng ngày, nếu lực lượng thu gom phát hiện hộ gia đình đăng ký mức thải 1 kg nhưng thực tế lại thải ra 10 kg, họ sẽ ghi nhận và mời chủ nhà làm việc để điều chỉnh. Thông qua cơ chế đối chiếu này, chính quyền và người dân sẽ từng bước hình thành ý thức về lượng rác mình thải ra môi trường. Từ đó họ sẽ chủ động điều chỉnh thói quen sinh hoạt để giảm thiểu rác thải.
Cân ký có giúp phân loại rác tốt hơn?
Tuy nhiên, ông Thuận cũng nhấn mạnh rằng, việc cân rác định lượng và việc nâng cao hiệu quả phân loại rác tại nguồn là hai phạm trù hoàn toàn khác nhau, không thể đánh đồng việc cân rác là sẽ giúp phân loại rác tốt hơn.
Để phân loại rác hiệu quả, vấn đề cốt lõi là phải tách biệt các loại rác thải và quản lý nghiêm ngặt phạm vi thu gom.
Thực tế, rác thải sinh hoạt hàng ngày của hộ gia đình không chiếm dung lượng quá lớn, mà thành phần gây lấn cấn và cản trở nhiều nhất cho lực lượng thu gom chính là các loại rác khác như rác công nghiệp (chăn, ga, gối, nệm, bàn, ghế, tủ cũ) và rác xây dựng (xà bần, bùn thải). Lực lượng thu gom rác sinh hoạt, dù là công lập hay dân lập, tuyệt đối không được phép thu gom các loại rác thải công nghiệp, rác xây dựng hay rác có thành phần độc hại như pin.
Đối với các loại rác thải công nghiệp hoặc đồ dùng gia đình cỡ lớn, chính sách cần bắt buộc người dân phải đăng ký thu gom riêng thông qua các đơn vị chức năng chuyên trách, gắn liền với trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất trong chương trình xanh hóa môi trường.
Đối với rác thải xây dựng, cần áp dụng hình thức xử phạt thật nghiêm đối với hành vi chia nhỏ xà bần, bùn thải đóng vào các túi rác sinh hoạt khi bỏ rác.
Khi các loại rác được phân tách rõ ràng và có chế tài xử phạt nghiêm minh, việc phân loại rác tại nguồn mới có thể đi vào nề nếp.
Về công tác tổ chức và quản lý thu gom, ông Thuận đề xuất về lâu dài nên giao cho chính quyền cấp phường, xã trực tiếp đứng ra thu phí rác thải từ các hộ dân. Từ nguồn thu này, chính quyền địa phương sẽ quản lý, phân phối lại chi phí và trích quỹ phát triển cho lực lượng thu gom.
Để mô hình này vận hành hiệu quả, Nhà nước bắt buộc phải quản lý được toàn bộ lực lượng thu gom rác dân lập, bao gồm các xã viên, hộ gia đình hoặc cá nhân hoạt động trong lĩnh vực này, đồng thời nắm rõ chi phí cũng như trang thiết bị thu gom. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục kiến thức cho chính những người đi thu gom rác để họ nắm rõ điều kiện, phạm vi các loại rác được phép và không được phép thu gom. Lực lượng thu gom này sẽ đóng vai trò giám sát tại cơ sở, kịp thời phát hiện, ghi nhận những hộ gia đình xả rác không đúng quy định để báo cáo chính quyền địa phương trực tiếp xử lý - TS Thuận nhấn mạnh.
Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường TPHCM, việc xây dựng giá dịch vụ theo khối lượng và thể tích là cơ sở để từng bước thu giá theo mức độ phát thải, qua đó tác động đến ý thức giảm lượng rác sinh hoạt phát sinh hằng ngày. Để kiểm soát khối lượng rác, Sở đã đưa vào hoạt động hệ thống quản lý cân tự động tại các đơn vị xử lý, đồng thời theo dõi lộ trình phương tiện vận chuyển bằng GPS theo thời gian thực. Khối lượng chất thải làm căn cứ tính giá được xác định dựa trên lượng rác chuyển giao cho đơn vị cung ứng dịch vụ; có thể cân trực tiếp hoặc quy đổi từ số lượng, dung tích thùng, túi chứa rác.