Mắc kẹt giữa “ma trận” thủ tục
Trong bối cảnh nhu cầu xử lý rác thải đô thị ngày càng cấp bách, điện rác từng được kỳ vọng là lời giải “hai trong một”, vừa xử lý môi trường vừa tạo ra năng lượng. Tuy nhiên, thực tế triển khai lại chậm hơn nhiều so với kỳ vọng khi các dự án phải đi qua một “ma trận” thủ tục kéo dài.
Trao đổi với PV Tiền Phong, đại diện một doanh nghiệp đầu tư điện rác tại Hà Nội cho rằng, điểm nghẽn lớn nhất của điện rác hiện nằm sự thiếu đồng bộ giữa pháp lý, tài chính và quy hoạch trong suốt giai đoạn chuẩn bị đầu tư.
Điện rác là mô hình đặc thù, quá trình triển khai không chỉ dừng ở các thủ tục của một dự án điện thông thường mà phải thực hiện một chuỗi yêu cầu phức tạp từ quy hoạch điện, xây dựng, đất đai đến đánh giá tác động môi trường và đầu tư hạ tầng phụ trợ. Cùng đó, phần lớn dự án đặt ngoài khu công nghiệp nên buộc doanh nghiệp phải tự đầu tư thêm đường giao thông, cấp nước, xử lý nước thải, bãi tro xỉ và hệ thống đấu nối điện. Mỗi hạng mục lại kéo theo một vòng thủ tục riêng khiến tiến độ tiếp tục bị kéo dài.
Theo vị này, một dự án điện rác thường mất từ 5-8 năm để hoàn tất từ chủ trương đến vận hành, thậm chí có dự án kéo dài gần một thập kỷ. Khi thời gian bị kéo giãn, chi phí đầu tư bị bào mòn đáng kể bởi trượt giá, lãi vay và biến động đầu vào. Trong đó, riêng yếu tố trượt giá có thể làm tổng mức đầu tư tăng thêm khoảng 30% sau 5 năm.
Không chỉ vướng thủ tục, bài toán tài chính cũng khiến nhiều dự án “kẹt” ngay từ đầu. Để vay vốn, nhà đầu tư phải chứng minh được nguồn rác đầu vào ổn định và dòng tiền đủ chắc chắn trong dài hạn. Tuy nhiên, hợp đồng xử lý rác hiện vẫn thiếu cam kết về khối lượng tối thiểu, thời hạn ngắn trong khi các địa phương còn dè dặt với nghĩa vụ ngân sách dài hạn.
Sau khi cơ chế giá FIT kết thúc, áp lực càng rõ hơn khi điện rác phải phụ thuộc vào hai nguồn thu là bán điện và phí xử lý rác, nhưng đều thiếu tính ổn định. Giá điện chuyển sang cơ chế đàm phán với Tập đoàn Điện lực Việt Nam theo khung giá trần điều chỉnh hàng năm khiến doanh nghiệp khó dự báo dòng tiền cho vòng đời dự án 20-25 năm.
Rủi ro từ “giấy phép con”, quy định mơ hồ
Không chỉ lạc vào “ma trận” thủ tục, nhiều doanh nghiệp hiện còn đối mặt với rủi ro từ các “giấy phép con” và những quy định chưa theo kịp thực tiễn.
Chia sẻ với PV Tiền Phong - một giám đốc doanh nghiệp xuất khẩu lao động - cho biết, thời gian qua, nhiều cá nhân và doanh nghiệp trong ngành đã bị xử lý liên quan đến các sai phạm như thu phí vượt quy định, làm sai quy trình tuyển chọn, ký kết hợp đồng... Trên thực tế, một số “giấy phép con” trong lĩnh vực này vẫn chưa được bãi bỏ, tiếp tục tạo ra rào cản và rủi ro trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp.
Điển hình là quy định về “phiếu trả lời” đăng ký hợp đồng cung ứng lao động của Cục Quản lý lao động ngoài nước. Theo doanh nghiệp, dù đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ báo cáo về đơn hàng, số lượng lao động xuất cảnh và đối tác hợp tác (có giấy phép, và ký quỹ), họ vẫn phải chờ cơ quan quản lý có văn bản trả lời cụ thể cho từng đơn hàng thì mới được triển khai. Trên thực tế, văn bản này gần như trở thành một “giấy phép con”; nếu chưa có doanh nghiệp không thể thực hiện hợp đồng.
“Không chỉ làm phát sinh thêm thủ tục, quy định này còn kéo dài thời gian xử lý hồ sơ, khiến cả doanh nghiệp và người lao động đều phải chờ đợi trầy trật, thậm chí bỏ lỡ cơ hội ký kết đơn hàng. Đây cũng là một trong những yếu tố làm gia tăng nguy cơ phát sinh vi phạm, tiêu cực khi một số doanh nghiệp buộc phải tìm cách lách để có trả lời sớm”, vị này cho hay.
Trong lĩnh vực dược, thuốc, đại diện Công ty Cổ phần Traphaco đánh giá, hệ thống pháp luật thời gian qua liên tục được sửa đổi, bổ sung nhưng trên thực tế doanh nghiệp vẫn gặp không ít vướng mắc, tiềm ẩn rủi ro, điển hình là quy định về thuốc giả và thuốc không đạt tiêu chuẩn chất lượng.
Theo quy định tại Luật Dược, “thuốc giả” là thuốc không có dược chất, có dược chất sai so với công bố, hoặc có hàm lượng không đúng với đăng ký; trong khi Nghị định 98/2022/NĐ-CP còn mở rộng khái niệm “hàng giả” đối với trường hợp sản phẩm có chỉ tiêu chất lượng chỉ đạt từ 70% trở xuống so với tiêu chuẩn đã công bố. Nói cách khác, chỉ cần hàm lượng hoạt chất giảm quá ngưỡng này, sản phẩm có thể bị xếp vào nhóm hàng giả theo quy định hiện hành.
Theo đại diện Traphaco, cách tiếp cận này chưa phản ánh đầy đủ đặc thù của ngành dược. Trên thực tế, nhiều hoạt chất như vitamin, enzym, men vi sinh… có tính chất không ổn định, dễ bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng trong quá trình lưu thông. Ngay cả khi doanh nghiệp đã tuân thủ đầy đủ quy trình sản xuất, kiểm nghiệm và bảo quản theo tiêu chuẩn, vẫn có thể xảy ra sai lệch nhỏ về hàm lượng hoạt chất ở một số mẫu tại thời điểm kiểm tra.
“Nếu áp dụng cứng nhắc các quy định nêu trên mà không đánh giá đúng bối cảnh kỹ thuật, những trường hợp suy giảm chất lượng do yếu tố khách quan này có thể bị quy kết thành “hàng giả” hoặc “thuốc giả”. Bởi một lô sản phẩm có thể đạt chuẩn tại thời điểm xuất xưởng nhưng sau một thời gian lưu thông có thể bị đánh giá vi phạm chỉ dựa trên kết quả kiểm nghiệm tại một thời điểm khác”, đại diện Traphaco chia sẻ.
Từ thực tế đó, Traphaco kiến nghị cần phân biệt rõ giữa hành vi gian dối, cố ý với các trường hợp suy giảm chất lượng do điều kiện khách quan, đồng thời đánh giá vi phạm dựa trên toàn bộ hồ sơ kỹ thuật và quy trình kiểm soát chất lượng, thay vì chỉ căn cứ vào một chỉ tiêu riêng lẻ.