Thi lớp 10 chỉ còn Toán, Văn: Có thực sự hạ nhiệt cuộc đua vào trường công?

TP - Đề xuất rút gọn kì thi tuyển sinh lớp 10 về hai môn Toán và Ngữ văn đang nhận được sự quan tâm lớn từ dư luận. Đây là kì thi chuyển cấp vốn mang tính định hướng hành vi rất cao. Nếu chỉ nhìn vào số lượng môn thi sẽ dễ bỏ qua những hệ lụy dài hạn đối với nền giáo dục.

Sức ép từ chỗ học

Bộ GD&ĐT đang lấy ý kiến về dự thảo mới, trong đó đề xuất nếu thi tuyển vào lớp 10 THPT công lập, học sinh chỉ thi Toán và Ngữ văn. Dự thảo vẫn giữ ba phương thức: thi tuyển, xét tuyển hoặc kết hợp; căn cứ thực tế, địa phương quy định phương thức tuyển sinh ở từng khu vực, loại hình trường.

Thời gian qua, thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT tại nhiều tỉnh, thành phố lớn phải đối mặt với không ít tồn tại, tạo ra gánh nặng lớn cho học sinh, phụ huynh và toàn hệ thống giáo dục.

Tại 2 đô thị lớn nhất cả nước Hà Nội, TPHCM, tỉ lệ học sinh trúng tuyển vào lớp 10 công lập thường chỉ dao động ở mức 60 - 65%. Mức độ cạnh tranh này làm kì thi căng thẳng hơn tuyển sinh đại học. Nguyên nhân chính do tốc độ gia tăng dân số cơ học vượt xa tốc độ phát triển hạ tầng giáo dục. Thiếu trường, thiếu lớp công lập khiến cơ hội học tập của học sinh bị thu hẹp đáng kể dù nhu cầu thực tế rất lớn.

Áp lực tuyển sinh lớp 10 hiện đang tạo ra nhiều hệ lụy. Khi tuyển sinh phụ thuộc lớn vào kết quả một kì thi tập trung duy nhất khiến hoạt động dạy và học ở trường THCS bị bó hẹp vào việc luyện đề, học tủ, giảm bớt thời gian cho các hoạt động trải nghiệm, phát triển kĩ năng mềm.

Cuộc đua giành suất vào lớp 10 công lập đẩy nhu cầu học thêm lên đỉnh điểm ngay từ các lớp dưới (lớp 6, 7, 8), gây lãng phí nguồn lực xã hội và làm mất đi tuổi thơ của học sinh.

Mỗi địa phương áp dụng một phương thức riêng, số lượng môn thi, cấu trúc đề thi hay cách tính điểm ưu tiên, thường xuyên thay đổi qua từng năm, gây tâm lí bất an và bị động cho giáo viên, học sinh.

Đặc biệt, tại Hà Nội, ngoài kì thi tuyển sinh lớp 10 công lập do Sở GD&ĐT tổ chức, học sinh có nguyện vọng vào các lớp chuyên còn phải tham gia các kì thi riêng biệt do các trường THPT chuyên thuộc trường đại học tổ chức. Điều này tạo nên một "mùa thi" kéo dài với áp lực cộng dồn khốc liệt đối với học sinh. Hằng năm, học sinh lớp 9 của Hà Nội có thể phải trải qua 3 - 5 kì thi độc lập trong vòng chưa đầy một tháng: kì thi chung của Sở GD&ĐT Hà Nội, kì thi THPT Chuyên Khoa học Tự nhiên, Chuyên Ngoại ngữ, Chuyên Sư phạm và Chuyên Khoa học Xã hội & Nhân văn.

Thời gian thi dài, đòi hỏi học sinh phải duy trì phong độ và tâm lí thi cử căng thẳng liên tục trong nhiều tuần liền. Mỗi trường chuyên thuộc trường đại học có cấu trúc đề thi, dạng bài, tiêu chí đánh giá khác nhau và mang tính phân loại cao, đòi hỏi học sinh phải luyện tập các dạng bài nâng cao, vượt xa khối lượng kiến thức chuẩn của chương trình THCS phổ thông.

Tỉ lệ chọi có thời điểm lên tới 1/10 hoặc 1/15, cao hơn đáng kể so với các trường chuyên trực thuộc sở. Mức độ cạnh tranh gay gắt này đẩy nhu cầu luyện thi tại các trung tâm từ sớm, khiến học sinh phải dành hầu hết thời gian rảnh cho việc học thêm ngay từ lớp 6, 7 và phụ huynh phải đầu tư tài chính đáng kể. Việc tham gia nhiều kì thi thường xuất phát từ tâm lí muốn tăng cơ hội trúng tuyển (đặt cược), nhưng thực tế lại làm gia tăng nguy cơ quá tải và kiệt sức.

Kì thi cần đo năng lực gì từ học sinh?

Theo TS Lê Đức Thuận, nguyên Trưởng phòng GD&ĐT quận Ba Đình (cũ), Hà Nội, câu hỏi cốt lõi trong tuyển sinh lớp 10 là: kì thi cần đo lường năng lực gì ở học sinh, và phương thức nào đạt được điều đó một cách công bằng, tin cậy với chi phí xã hội tối ưu nhất?

1.png
Học sinh thi tuyển sinh lớp 10 tại Hà Nội. Ảnh: DUY PHẠM

Thực tế, việc cắt giảm môn thi có thể giúp kì thi bớt căng thẳng, nhưng chưa chắc giảm được áp lực tuyển sinh. Chừng nào nhu cầu vào các trường tốp đầu còn vượt xa chỉ tiêu, sức ép cạnh tranh vẫn tồn tại, chỉ là chuyển từ ba môn sang hai môn. Ở chiều ngược lại, nỗi lo bỏ môn thi thứ ba (đặc biệt là Ngoại ngữ) dẫn đến tình trạng học lệch là hoàn toàn có cơ sở, bởi môn thi cạnh tranh luôn thu hút phần lớn thời gian và nguồn lực. Dẫu vậy, không nên mặc định “có thi mới học tốt” hay “bỏ thi sẽ học kém”, cả hai giả định này đều cần được chứng minh bằng thực tiễn.

Ông Thuận phân tích, kì thi tuyển sinh lớp 10 năm 2026 có khoảng 30 tỉnh, thành chọn Tiếng Anh làm môn thi thứ ba. Bài toán đặt ra là: Việc đo lường thêm môn Tiếng Anh giúp tăng khả năng phân loại và dự báo năng lực học THPT đến mức nào? Nếu giá trị bổ sung này đáng kể, đó là căn cứ thuyết phục để giữ; ngược lại, nếu giá trị tạo ra rất thấp nhưng lại kích động làn sóng học thêm, luyện thi và gia tăng chi phí xã hội, đó chính là cơ sở để xem xét loại bỏ. Một môn thi nên được giữ lại vì nó cung cấp dữ liệu có giá trị cho quyết định tuyển sinh, chứ không chỉ vì bản thân môn học đó quan trọng.

Từ đó, ông Thuận khẳng định số lượng môn thi không phải nguyên nhân gốc rễ gây ra áp lực tuyển sinh lớp 10. Dữ liệu từ Bộ GD&ĐT cho thấy, năm học vừa qua cả nước có khoảng 1,5 triệu học sinh tốt nghiệp THCS với gần 1,2 triệu chỉ tiêu lớp 10 (tỉ lệ đỗ 79,3%). Tuy nhiên, con số trung bình này không phản ánh đúng thực tế tại từng địa phương. Đơn cử như tại Đắk Lắk, năm nay, sau đợt tuyển sinh chính, 80 trường THPT công lập vẫn thiếu trên 2.700 chỉ tiêu phải tuyển bổ sung. Trong khi đó tại các đô thị lớn, cuộc đua vào các trường uy tín lại rất khốc liệt.

2a.jpg
TS Lê Đức Thuận. Ảnh: NVCC

TS Lê Đức Thuận khẳng định số lượng môn thi không phải nguyên nhân gốc rễ gây ra áp lực tuyển sinh lớp 10.

Điều này chứng minh rằng, "có chỗ học" hoàn toàn khác với "có cơ hội học tập phù hợp". Chỗ học có thể còn, nhưng khoảng cách địa lí xa, chất lượng chưa đủ hấp dẫn hoặc không phù hợp với nguyện vọng, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa và hải đảo. Vì vậy, giảm môn thi chỉ làm nhẹ gánh nặng thi cử; muốn giải quyết gốc rễ áp lực phải tác động trực tiếp vào cấu trúc cơ hội học tập sau THCS.

Căn cứ

Về căn cứ quyết định bỏ hay giữ môn thứ ba, quy định hiện hành đã cho phép ba phương thức: thi tuyển, xét tuyển hoặc kết hợp. Dự thảo mới tiếp tục phân quyền linh hoạt cho các địa phương tự quyết định phương thức phù hợp với từng trường. Hướng đi này sát với thực tiễn, nhưng phân quyền bắt buộc phải đi đôi với tiêu chí rõ ràng và trách nhiệm giải trình.

Kinh nghiệm quốc tế chỉ ra không có công thức tuyển sinh duy nhất. Nguyên tắc quan trọng là phương thức tuyển sinh phải phù hợp với mục tiêu tuyển chọn và cấu trúc cơ hội giáo dục. Do đó, theo ông Thuận, quy trình xây dựng chính sách chuẩn phải đi theo trật tự: Xác định mục tiêu tuyển sinh-xác định năng lực cần đo-lựa chọn công cụ đo-kiểm định bằng dữ liệu-quyết định số môn thi. Tuyệt đối không nên chọn sẵn số môn rồi mới tìm lí do biện hộ.

Đặc biệt, nguồn dữ liệu tuyển sinh năm 2026 hoàn toàn cho phép "thử nghiệm" chính sách trước khi chốt phương án. Bằng phương pháp mô phỏng trên dữ liệu ẩn danh, ngành giáo dục có thể đánh giá chính xác, nếu bỏ môn thứ ba, tỉ lệ trùng điểm biến động ra sao, thứ hạng học sinh thay đổi thế nào, khả năng phân loại tăng hay giảm và nhóm học sinh nào chịu tác động?

Ông Thuận nhấn mạnh, khi sự chênh lệch chất lượng giữa các trường còn lớn, mạng lưới trường lớp chưa theo kịp đà tăng dân số, còn giáo dục nghề nghiệp và giáo dục thường xuyên chưa đủ sức hút, thì việc chuyển từ ba môn xuống hai môn bản chất chỉ là sự thay đổi về mặt kĩ thuật tuyển sinh.

2b.jpg
TS Nguyễn Thị Thu Anh. Ảnh: NVCC

Theo TS Nguyễn Thị Thu Anh, trách nhiệm đảm bảo chất lượng đào tạo cần được thực hiện đồng bộ từ Bộ GD&ĐT, cơ quan quản lí giáo dục địa phương đến từng nhà trường. Khi trách nhiệm được xác định rõ ở mỗi cấp và chất lượng được giám sát thực chất, việc đổi mới thi cử mới có thể mang lại hiệu quả.

TS Nguyễn Thị Thu Anh, nguyên Hiệu trưởng Trường THCS & THPT Nguyễn Tất Thành (Hà Nội), thành viên Hội đồng Quốc gia Giáo dục và Phát triển nhân lực, Phó Chủ tịch Hội Tâm lí Giáo dục học Hà Nội cho rằng, thi hai hay ba môn không phải là vấn đề quan trọng nhất. Điều cốt lõi là cơ chế bảo đảm chất lượng và trách nhiệm của các cấp quản lí, của từng nhà trường đối với chất lượng giáo dục thực chất.

Theo bà, nếu chỉ tăng hoặc giảm số môn thi mà thiếu giải pháp quản lí đi kèm thì khó tạo ra thay đổi bền vững.

Chương trình GDPT 2018 xác định THCS là giai đoạn hoàn thành giáo dục cơ bản, tạo nền tảng để học sinh bước vào giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp ở THPT. Vì vậy, nếu giảm số môn thi, càng cần có cơ chế bảo đảm chất lượng dạy học ở tất cả các môn, đáp ứng mục tiêu phát triển toàn diện học sinh.