Ông Vũ Duy Hải - Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Tập đoàn Vinacam, cho rằng hiện nay ngành sầu riêng đang chịu áp lực từ nhiều bất cập, trong đó có 4 điểm nghẽn cốt lõi cần sớm tháo gỡ để bảo đảm chất lượng, giữ vững thị trường xuất khẩu và phát triển bền vững.
Ma trận bao bì phân bón gây ngộ nhận và rủi ro từ Cadimi
Ngày 20/8, Báo Tiền Phong tổ chức Tọa đàm “Gỡ điểm nghẽn ngành hàng sầu riêng: Kiến tạo xuất khẩu bền vững”, với sự tham gia của đại diện cơ quan quản lý, hiệp hội, doanh nghiệp và những đơn vị liên quan đến chuỗi sản xuất, xuất khẩu sầu riêng.
Tại tọa đàm, ông Vũ Duy Hải - Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Tập đoàn Vinacam cho rằng hiện nay ngành sầu riêng đang chịu áp lực từ nhiều bất cập, trong đó có 4 điểm nghẽn cốt lõi cần sớm tháo gỡ để bảo đảm chất lượng, giữ vững thị trường xuất khẩu và phát triển bền vững.
Ông Hải thẳng thắn chỉ ra điểm nghẽn đầu tiên là tình trạng nhái, giả và lập lờ thông tin trên bao bì phân bón khiến nông dân dễ ngộ nhận khi lựa chọn sản phẩm.
Theo ông Hải, hiện nay thị trường phân bón có khoảng 29.000 tên sản phẩm được cấp phép lưu hành, thị trường xuất hiện không ít loại phân bón có mặt trước in nổi bật các chữ DAP, NPK, Kali cùng thông tin quảng cáo về công nghệ, chất lượng Mỹ hoặc châu Âu, tạo cảm giác đây là sản phẩm cao cấp, đúng chuẩn.
Tuy nhiên, thông tin về thành phần thực tế lại được thể hiện nhỏ ở mặt sau hoặc tem phụ. Có sản phẩm ghi nổi bật DAP hoặc NPK, nhưng thành phần chủ yếu là amoni clorua với hàm lượng đạm 25%, trong khi tỷ lệ clorua lên tới 66% về khối lượng. Một số bao bì ghi “kali miểng”, khiến người dân hiểu rằng hàm lượng kali hữu hiệu đạt tối thiểu 60%, nhưng thông tin trên tem phụ lại hoàn toàn khác.
Ông Vũ Duy Hải - Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Tập đoàn Vinacam phát biểu tại toạ đàm.
Đáng chú ý, theo lãnh đạo Vinacam, một số mẫu bao bì dạng này còn in cả số giấy phép sản xuất, giấy phép lưu hành và được phân phối tới nhiều địa phương trên cả nước.
“Bà con nhìn mặt trước tưởng là DAP, NPK hoặc kali chuẩn nên sử dụng theo thói quen, trong khi sản phẩm không phù hợp với chu kỳ sinh trưởng, tạo quả, lên cơm của sầu riêng. Hậu quả có thể là thất mùa, dư lượng clo, làm giảm chất lượng trái, thậm chí phải đổ bỏ vì không thể xuất khẩu”, ông Hải nói.
Từ thực tế trên, lãnh đạo Vinacam kiến nghị thay đổi cách quản lý theo hướng kiểm soát chặt trực tiếp mẫu mã, thông số và nội dung trên bao bì, tăng cường hậu kiểm, đồng thời nâng chế tài xử phạt đối với hành vi gây ngộ nhận cho người sử dụng.
"Sản phẩm lưu hành trên thị trường phải đúng mẫu bao bì đã được duyệt. Nếu thông tin sai lệch hoặc gây ngộ nhận, doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Việc duyệt mẫu bao bì có thể phân cấp cho cơ quan bảo vệ thực vật tại địa phương để giảm áp lực cho cơ quan trung ương", ông Hải nói.
Điểm nghẽn thứ hai theo ông Hải là kiểm soát Cadimi trong phân bón và nông sản. Lãnh đạo Vinacam cho rằng trước khi Văn phòng Thông báo và Điểm hỏi đáp quốc gia về Vệ sinh Dịch tễ và Kiểm dịch Động thực vật Việt Nam (SPS Việt Nam) đưa ra cảnh báo và xảy ra tình trạng sầu riêng bị trả về, tác hại cũng như cơ chế tích tụ Cadimi trong phân bón, đất và nông sản chưa được doanh nghiệp, người dân quan tâm đúng mức. Hoạt động kiểm tra phân bón lưu thông trên thị trường cũng hiếm khi yêu cầu định lượng Cadimi.
Ma trận phân bón khiến nông dân dễ ngộ nhận khi lựa chọn sản phẩm. Ảnh minh hoạ.
Ông Hải cho rằng khi sự cố Cadimi trong sầu riêng bùng phát, việc xác định nguyên nhân ban đầu còn lúng túng. Trong khi đó, Cadimi có thể xuất hiện trong các loại phân bón chứa lân; tại những vùng đất chua, phèn, chất này có nguy cơ hòa tan, được cây hấp thụ và đưa lên quả.
Ngày 1/6/2026, Vinacam đã gửi văn bản tới Bộ Nông nghiệp và Môi trường cùng Hiệp hội Phân bón Việt Nam, đề xuất điều chỉnh giảm hàm lượng Cadimi tối đa trong các loại phân bón chứa lân.
Cụ thể, doanh nghiệp kiến nghị hạ giới hạn Cadimi trong phân DAP và phân lân từ mức tối đa 12 ppm hiện nay xuống còn 5-6 ppm; phân hữu cơ từ dưới 5 ppm xuống còn 2-3 ppm. Với phân NPK và các loại phân khác có chứa lân như NP, KP, đại diện Vinacam đề xuất áp dụng mức giới hạn 2-3 ppm.
Doanh nghiệp cũng đề nghị khuyến khích nhập khẩu, sản xuất các dòng DAP chất lượng cao, có hàm lượng cadimi dưới 1 ppm, đồng thời bổ sung axit humic, fulvic và kẽm để góp phần cải tạo đất, bảo vệ cây trồng.
Không thể né tránh hoặc xử lý sự cố theo cảm tính
Điểm nghẽn thứ ba theo ông Vũ Duy Hải là việc sử dụng hóa chất dưỡng trái, đặc biệt là chất Vàng O trong quá trình xử lý sau thu hoạch. Chất này được một bộ phận người trồng sử dụng vì có tác dụng giúp kéo dài thời gian bảo quản, làm cơm sầu riêng có màu vàng đẹp và chín đều.
Tuy nhiên, khi nguy cơ từ Vàng O được phát hiện, vấn đề đặt ra là người dân chưa có đầy đủ giải pháp thay thế an toàn. Theo lãnh đạo Vinacam, nếu chỉ dừng ở việc cấm sử dụng mà không nhanh chóng nghiên cứu, công nhận và phổ biến sản phẩm thay thế phù hợp, nông dân có thể tiếp tục tự tìm kiếm những hóa chất khác, kéo theo nguy cơ phát sinh các rủi ro mới.
Do đó, cơ quan chuyên môn cần đẩy nhanh việc nghiên cứu và đưa vào sử dụng những chế phẩm an toàn, giúp sầu riêng đáp ứng yêu cầu về chất lượng, thời gian bảo quản và hình thức sản phẩm. Đây cũng là yêu cầu cấp thiết trong bối cảnh những thị trường nhập khẩu ngày càng siết chặt tiêu chuẩn đối với dư lượng hóa chất nguy hại.
Theo ông Vũ Duy Hải, bài toán của ngành nông sản không chỉ dừng ở Cadimi hay Vàng O. Trong tương lai, những rào cản liên quan đến Clo, Asen và nhiều chỉ tiêu khác có thể tiếp tục xuất hiện. Vì vậy, cơ quan quản lý và ngành chuyên môn cần có bước chuẩn bị từ sớm, chủ động cập nhật yêu cầu của thị trường để không rơi vào tình thế bị động.
"Để ngành hàng sầu riêng phát triển bền vững, đạt giá trị xuất khẩu hàng tỷ USD, chúng ta không thể tiếp tục né tránh hay xử lý sự cố theo cảm tính “kiên quyết không dùng phân bón có chứa Cadimi”, hay coi những phản ánh xây dựng là "cạnh tranh không lành mạnh, là chuyện nội bộ của doanh nghiệp" mà cần phải có những giải pháp căn cơ, khoa học!", ông Vũ Duy Hải, Tổng giám đốc Vinacam.
Điểm nghẽn cuối cùng, theo Tổng Giám đốc Vinacam là sự thiếu kết nối và phản hồi giữa cơ quan quản lý với cộng đồng doanh nghiệp. Ông Vũ Duy Hải cho rằng sự chậm trễ trong tiếp nhận thông tin, phản hồi kiến nghị và xử lý cảnh báo có thể khiến những rủi ro nhỏ tích tụ thành thiệt hại lớn.
Lãnh đạo Vinacam dẫn lại vụ việc xảy ra tháng 7/2023, khi đối tác Hàn Quốc thông báo một sản phẩm DAP do họ sản xuất có hàm lượng cadimi lên tới 28 ppm, cao hơn hai lần quy chuẩn 12 ppm của Việt Nam. Vinacam sau đó chủ động tạm dừng nhập khẩu và gửi văn bản tới Bộ NN&PTNT.
Muốn ngành hàng sầu riêng phát triển bền vững và duy trì giá trị xuất khẩu hàng tỷ USD, chúng ta không thể né tránh hoặc xử lý sự cố theo cảm tính.
Đến tháng 10/2023, doanh nghiệp tiếp tục đề nghị công bố kết quả tái kiểm đối với các lô DAP Hàn Quốc được nhập khẩu trước và sau thời điểm cảnh báo, nhưng không nhận được phản hồi.
Theo ông Hải, phải đến tháng 8/2025, sau khi hàng trăm container sầu riêng bị Trung Quốc trả về do dư lượng cadimi và Vinacam gửi văn bản lên Thủ tướng Chính phủ, cơ quan chuyên ngành mới mời doanh nghiệp làm việc. Kết quả được thông báo cho thấy 2 trong số 3 mẫu kiểm có hàm lượng cadimi vượt hơn 1,5 lần quy chuẩn.
“Nếu thông tin từ doanh nghiệp được tiếp nhận, phản hồi và xử lý quyết liệt, kịp thời, khoa học, có lẽ hậu quả đối với ngành sầu riêng hai năm sau đó đã không đau xót như vừa qua”, ông Hải nhận định.
Từ thực tế này, lãnh đạo Vinacam cho rằng doanh nghiệp không chỉ là đối tượng chịu sự quản lý mà còn là nguồn thông tin quan trọng giúp phát hiện sớm rủi ro thị trường. Nếu cơ quan quản lý, hiệp hội và doanh nghiệp có cơ chế kết nối thường xuyên, lắng nghe phản biện và xử lý cảnh báo một cách khoa học, nhiều thiệt hại có thể được hạn chế từ sớm.
“Muốn ngành hàng sầu riêng phát triển bền vững và duy trì giá trị xuất khẩu hàng tỷ USD, chúng ta không thể né tránh hoặc xử lý sự cố theo cảm tính. Những phản ánh, phản biện của doanh nghiệp cần được nhìn nhận như một kênh kết nối tích cực để cùng xây dựng nền nông nghiệp xanh, sạch và bền vững”, ông Hải nhấn mạnh.