Bà Đặng Thị Thuỷ - Phó Giám đốc Sở NN&MT Đắk Lắk cho biết, trong hơn 1 tháng qua, ngành nông nghiệp tỉnh Đắk Lắk cũng như tỉnh, bộ và Chính phủ đã vào cuộc trong triển khai, giải quyết những nội dung Nghị quyết 36; cũng như vấn đề liên quan thủ tục hành chính.
Trước đây, thủ tục hành chính về cung cấp mã số vùng trồng cần 10 ngày, thì hiện nay đã giảm xuống 3 ngày. Còn một số vấn đề tồn tại của địa phương, cơ bản đã và đang được xử lý.
Tính đến ngày 19/8, tỉnh cũng đã nhận được thông báo cấp cái mã số vùng trồng cho 140 mã trên một cái diện tích hơn 4.300 hecta. 31 cơ sở đóng gói đã nhận được mã số với diện tích 91.000 m2.
Đây là kết quả từ nỗ lực của tỉnh, cùng bộ, Chính phủ nhằm gỡ khó khó cho doanh nghiệp và người dân ngay giữa mùa cao điểm thu hoạch. Tuy nhiên, địa phương không chạy theo số lượng mã số được cấp mà tập trung vào chiều sâu và tính bền vững. Quan điểm chỉ đạo của tỉnh là phải chuyển dịch mạnh mẽ từ tư duy sản xuất sang tư duy kinh tế nông nghiệp.
"Chúng tôi tập trung tổ chức lại sản xuất ngay từ khâu đầu tiên của bà con nông dân. Quy trình sản xuất phải được chuẩn hóa thì chất lượng đầu ra mới đảm bảo. Ngành nông nghiệp tỉnh hiện đang ưu tiên hàng đầu cho công tác giám sát và hậu kiểm để các vùng trồng luôn duy trì đủ điều kiện xuất khẩu sang những thị trường khó tính nhất", Bà Đặng Thị Thuỷ - Phó Giám đốc Sở NN&MT Đắk Lắk nói.
Để hiện thực hóa mục tiêu bền vững, Đắk Lắk đang triển khai chiến dịch 30 ngày đêm thực hiện số hóa mã số vùng trồng và định danh các khu vực sản xuất. Hoạt động này nhằm nâng cao trách nhiệm của người nông dân trong việc ghi chép nhật ký canh tác và tuân thủ quy trình chuẩn, tránh các rủi ro về kiểm dịch thực vật hay các vi phạm quy định nhập khẩu.
Trong thời gian tới, Sở NN&PTNT sẽ tham mưu cho UBND tỉnh xây dựng bản đồ nông hóa thổ nhưỡng và huy động nguồn lực xã hội hóa để lập bản đồ dinh dưỡng riêng cho ngành hàng sầu riêng. Đây sẽ là những bản đồ 'sống', được cập nhật dữ liệu liên tục để ngành chức năng có thể theo dõi, quản lý sát sao và hỗ trợ bà con nông dân tối ưu hóa năng suất, chất lượng cây trồng.
Với sự vào cuộc quyết liệt và những bước đi bài bản trong công nghệ và tư duy quản lý, Đắk Lắk đang kỳ vọng đưa thương hiệu sầu riêng địa phương vươn tầm thế giới một cách vững chắc.
*
Ông Vũ Duy Hải, Tổng giám đốc Vinacam cho biết, ngành sầu riêng nói riêng và nông sản Việt Nam nói chung đang đối mặt ít nhất 4 điểm nghẽn lớn, liên quan đến chất lượng vật tư nông nghiệp, kiểm soát hóa chất, tiêu chuẩn xuất khẩu và sự phối hợp giữa doanh nghiệp với cơ quan quản lý.
Với khoảng 29.000 tên sản phẩm được cấp phép lưu hành, thị trường phân bón vẫn tồn tại tình trạng bao bì lập lờ, dễ khiến nông dân hiểu nhầm về nguồn gốc và chất lượng. Một số sản phẩm in nổi bật các chữ như DAP, NPK, Kali cùng thông tin về công nghệ, chất lượng Mỹ, châu Âu…, trong khi thành phần thực tế lại được ghi ở mặt sau hoặc tem phụ với cỡ chữ nhỏ.
Việc sử dụng phân bón không đúng thành phần, đặc biệt với cây sầu riêng, có thể ảnh hưởng sinh trưởng, làm tăng nguy cơ dư lượng và khiến sản phẩm không đáp ứng yêu cầu xuất khẩu. Doanh nghiệp kiến nghị tăng kiểm duyệt trực tiếp bao bì, hậu kiểm thông tin ghi trên sản phẩm và nâng chế tài xử phạt. Sản phẩm lưu hành phải đúng mẫu bao bì được phê duyệt, doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm nếu thông tin gây ngộ nhận.
Một vấn đề khác là Cadimi trong phân bón và nông sản. Trước khi xuất hiện những cảnh báo mạnh từ năm 2022, việc kiểm soát Cadimi chưa được chú trọng đúng mức, trong khi thông tin và xét nghiệm đối với phân bón lưu thông trên thị trường còn hạn chế.
Do Cadimi có thể hiện diện trong phân bón chứa lân, đặc biệt trong điều kiện đất chua phèn, Vinacam cho rằng cần kiểm soát ngay từ nguồn vật tư đầu vào. Ngày 1/6/2026, doanh nghiệp đề xuất giảm giới hạn Cadimi trong phân DAP và phân lân từ tối đa 12 ppm xuống khoảng 5-6 ppm; phân hữu cơ xuống 2-3 ppm; đồng thời bổ sung quy định kiểm soát Cadimi đối với NPK và các loại phân có chứa lân.
Vinacam cũng đề xuất khuyến khích sản xuất, nhập khẩu các dòng DAP có hàm lượng Cadimi thấp, kết hợp các chất cải tạo đất và vi lượng nhằm hạn chế nguy cơ cây hấp thụ Cadimi.
Vàng O được một bộ phận người dân sử dụng trong xử lý sau thu hoạch nhằm kéo dài bảo quản, tạo màu vàng đẹp và giúp sầu riêng chín đều. Tuy nhiên, khi chất này bị cảnh báo về nguy cơ gây hại, việc thiếu sản phẩm thay thế an toàn có thể khiến người dân tự tìm giải pháp khác, tiềm ẩn rủi ro.
Do đó, doanh nghiệp kiến nghị cơ quan chuyên môn nhanh chóng nghiên cứu, công nhận và phổ biến các chế phẩm sinh học hoặc hóa học an toàn có thể thay thế Vàng O. Đồng thời, cơ quan quản lý cần chủ động chuẩn bị trước nguy cơ các thị trường nhập khẩu tiếp tục siết dư lượng Clo, Asen và những chất nguy hại khác.
Điểm nghẽn cuối cùng là sự thiếu kết nối và phản hồi chậm giữa cơ quan quản lý với doanh nghiệp. Doanh nghiệp cho biết từ tháng 7/2023 đã cảnh báo về một số lô DAP có hàm lượng Cadimi lên tới 28 ppm, đồng thời chủ động dừng nhập khẩu và gửi kiến nghị tới cơ quan quản lý nhưng chưa nhận được phản hồi đầy đủ.
Đến khi hàng trăm container sầu riêng bị Trung Quốc trả về do vấn đề Cadimi và doanh nghiệp tiếp tục kiến nghị, tháng 8/2025 cơ quan chuyên môn mới làm việc và xác nhận 2/3 mẫu kiểm tra có hàm lượng Cadimi vượt ngưỡng.
Theo ông Nguyễn Trí Ngọc, nguyên Cục trưởng Cục Trồng trọt, Phó Chủ tịch thường trực Tổng hội Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, từ câu chuyện của cà phê trước đây, cần nhìn lại cách thức quản lý quy hoạch đối với sầu riêng. Khi cà phê phát triển vượt quy hoạch, chúng tôi từng sang Brazil nghiên cứu sự phát triển mang tính thị trường và cách thức quản lý quy hoạch của họ. Một ý nghĩ cứ đau đáu là: Tại sao người ta quản lý được mà mình không quản lý được?
Rất rõ ràng, nông dân, những người trồng cà phê, nếu không thực hiện quy hoạch thì không được tham gia thị trường. Vậy tại sao hiện nay, nếu người dân phá vỡ quy hoạch, trồng sầu riêng không theo định hướng thì chúng ta không áp dụng biện pháp tương tự, chẳng hạn không cấp mã số vùng trồng? Ta làm được, tại sao ta không làm được?
Nếu không có chế tài, việc thực hiện quy hoạch của chúng ta sẽ rất khó khăn. Chúng ta cần những phương thức quản lý, những chế tài mang tính khả thi. Đặc biệt, hiện nay chúng ta thực hiện chính quyền hai cấp, sức mạnh quản lý gần với địa bàn hơn. Đây là điều kiện để quản lý tốt hơn việc phát triển vùng trồng sầu riêng.
Trong công tác quản lý, rõ ràng có những vấn đề bất cập chúng ta đã phải xử lý ngay, không chỉ ở tầm bộ mà cả Chính phủ. Nghị quyết 36 đã được triển khai một cách tập trung, quyết liệt đến tận địa phương, chính quyền các cấp, đến cấp xã, với trách nhiệm rõ ràng. Việc tổ chức thực hiện liên quan trực tiếp đến vùng trồng, mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói và quản lý trực tiếp các hộ nông dân. Tôi cho rằng đây là một tư duy quản lý rất rõ ràng và minh bạch.
"Tôi muốn nhấn mạnh yếu tố minh bạch, bởi những câu chuyện xảy ra vừa rồi cho thấy thiếu minh bạch mới dẫn đến những xáo trộn và làm khổ cả ngành. Vì vậy, một lần nữa, tôi cho rằng dứt khoát phải điều chỉnh quy hoạch trồng sầu riêng", ông Ngọc nói.
Nếu chúng ta đã thống nhất rằng không thể phát triển một cách tùy tiện theo nhu cầu thị trường thì không thể chỉ vì một con số tăng trưởng về diện tích hay xuất khẩu mà bỏ qua yếu tố bền vững. Yếu tố bền vững mới là yếu tố quyết định sự phát triển thành công của một ngành hàng mà chúng ta rất tự hào.
Một vấn đề nữa chúng ta cần tính đến là sầu riêng mang tính thời vụ rất khắc nghiệt. Bản chất của nông nghiệp là thời vụ. Từ tháng 3 đến tháng 10 là thời vụ thu hoạch chính của sầu riêng ở Tây Nguyên, với sản lượng hơn 1 triệu tấn. Với một lượng sản phẩm lớn tập trung trong thời gian tương đối ngắn như vậy, chúng ta sẽ phải đối mặt với áp lực rất lớn về tiêu thụ.
Từ kinh nghiệm của cà phê và kinh nghiệm của Thái Lan, ông Ngọc cho rằng công tác chế biến phải được coi là một giải pháp quan trọng. Ông Ngọc cho hay, công nghiệp chế biến của Thái Lan phát triển rất sâu. Khi sản lượng thu hoạch tập trung thì đã có hệ thống chế biến tương ứng, qua đó giảm áp lực cho sản phẩm trong thời điểm thu hoạch rộ.
Ông Nguyễn Quốc Mạnh, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật- Bộ Nông nghiệp & Môi trường cho rằng, sầu riêng là cây trồng quan trọng của ngành hàng trồng trọt Việt Nam và là ngành hàng phát triển nhanh trong 10 nămv àđặc biệt nhanh trong 5 năm vừa qua.
Năm 2015, cả nước mới có khoảng 31.000 ha sầu riêng. Đến năm 2020, diện tích tăng lên trên 70.000 ha. Chỉ trong giai đoạn 2020-2025, diện tích đã tăng gần gấp 3 lần, đạt khoảng 195.000 ha vào cuối năm 2025. Song song với đó, sản lượng cũng tăng rất nhanh, từ khoảng 600.000 tấn năm 2020 lên 1,8 triệu tấn năm 2025 và dự kiến vượt 2 triệu tấn trong năm 2026.
Sự phát triển quá nhanh, thậm chí có thể gọi là "quá nóng", đã bộc lộ nhiều khó khăn trong quản lý, sản xuất và tiêu thụ sầu riêng. Trước hết là việc kiểm soát chất lượng khi diện tích tăng mạnh. Bên cạnh đó, nhiều địa phương phát triển sầu riêng ở những vùng không phù hợp với điều kiện sinh thái nên đã phải trả giá. "Có những vùng không được khuyến cáo trồng sầu riêng nhưng vẫn phát triển diện tích. Và chúng ta đã phải trả giá.
Ngoài ra, việc phát triển diện tích quá nhanh cũng đặt ra bài toán về quản lý chất lượng giống, kiểm soát sinh vật gây hại trên quy mô sản xuất lớn cũng như công tác cấp, quản lý và sử dụng mã số vùng trồng theo yêu cầu của các nước nhập khẩu.
Trong quá trình triển khai Nghị định 38 đã phát sinh nhiều khó khăn, vướng mắc về cấp và quản lý mã số vùng trồng. Vì vậy, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 36 để tháo gỡ những bất cập này.
Nghị quyết 36 có ba điểm mới quan trọng. Thứ nhất, không còn giới hạn diện tích tối thiểu khi cấp mã số vùng trồng. Thứ hai, cho phép cấp mã số đối với cây trồng xen trên cùng thửa đất, trong khi trước đây chưa được thực hiện theo yêu cầu của thị trường nhập khẩu. Thứ ba, thay đổi thẩm quyền quản lý, giao cấp xã thực hiện việc cấp, giám sát và kiểm tra mã số vùng trồng thay vì cơ quan chuyên môn cấp tỉnh như trước", ông Mạnh cho hay.
Bên cạnh đó, Nghị quyết 36 cũng yêu cầu cắt giảm thủ tục hành chính, đơn giản hóa quy trình để việc cấp, quản lý và sử dụng mã số được thực hiện nhanh hơn. "Toàn bộ quy trình cấp mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói sẽ được thực hiện trực tuyến trên Cổng Dịch vụ công quốc gia. Trong bối cảnh Tây Nguyên đang bước vào chính vụ sầu riêng, việc đẩy nhanh cấp mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói có ý nghĩa rất quan trọng, góp phần thúc đẩy xuất khẩu sầu riêng sang các thị trường có yêu cầu chặt chẽ về truy xuất nguồn gốc và mã số vùng trồng.
Phát biểu khai mạc buổi tọa đàm, Phó Tổng Biên tập Báo Tiền Phong Nguyễn Ngọc Tiến cho biết, sầu riêng Việt Nam đang bước vào một giai đoạn phát triển rất đặc biệt. Chỉ trong vài năm, từ một loại trái cây có quy mô xuất khẩu còn khiêm tốn, sầu riêng đã vươn lên trở thành mặt hàng rau quả xuất khẩu số 1 của nông sản Việt Nam, mang về hàng tỷ USD, tạo sinh kế cho người dân và trở thành cây trồng có giá trị cao tại nhiều địa phương.
Tuy nhiên, đi kèm với tăng trưởng càng nhanh, những điểm nghẽn của ngành hàng càng bộc lộ rõ. Diện tích, sản lượng tăng mạnh nhưng vùng nguyên liệu đáp ứng đầy đủ điều kiện xuất khẩu chưa theo kịp. Liên kết giữa người trồng, hợp tác xã, cơ sở đóng gói và doanh nghiệp chưa thật sự bền chặt. Những vấn đề về mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói, kiểm nghiệm, truy xuất nguồn gốc, chất lượng, an toàn thực phẩm, thương hiệu và uy tín ngành hàng vẫn đặt ra nhiều thách thức.
Đáng chú ý, trong khi sản lượng tiếp tục tăng nhanh, xuất khẩu sầu riêng vẫn tập trung lớn vào Trung Quốc và chủ yếu là quả tươi. Điều đó đặt ra áp lực không chỉ về chất lượng, tiêu thụ trong từng vụ, mà còn về mở rộng thị trường, chế biến, logistics và nâng giá trị của cả ngành hàng.
Thời gian qua, Chính phủ đã liên tục yêu cầu các bộ, ngành, địa phương tháo gỡ điểm nghẽn cho sản xuất, tiêu thụ và xuất khẩu nông sản; chủ động cập nhật yêu cầu thị trường, mở rộng đầu ra, nâng chất lượng vùng nguyên liệu, tăng truy xuất nguồn gốc và xây dựng thương hiệu.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã tham mưu Chính phủ ban hành Nghị quyết 36/2026/NQ-CP theo hướng đơn giản hóa thủ tục, tăng phân cấp và hậu kiểm trong quản lý mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói. Song yêu cầu đặt ra là tạo thuận lợi nhưng vẫn phải giữ kỷ cương, bảo đảm mã số gắn đúng vùng trồng, đúng sản lượng và truy xuất được trách nhiệm.
Đặc biệt, bài toán của sầu riêng hiện nay không còn chỉ là tăng sản lượng hay kim ngạch, mà là làm thế nào để quản trị tốt một ngành hàng đã có quy mô hàng tỷ USD.
Vì vậy, tọa đàm hôm nay mong muốn được trao đổi một cách cởi mở, thẳng thắn và thực chất những vấn đề cốt lõi: Làm thế nào kiểm soát chất lượng từ gốc; tổ chức lại vùng nguyên liệu và liên kết chuỗi; đa dạng hoá thị trường và đáp ứng các yêu cầu tiêu chuẩn; thúc đẩy chế biến sâu, kho lạnh, logistics; đồng thời khơi thông nguồn vốn cho người trồng, hợp tác xã và doanh nghiệp....
Sầu riêng đang giữ vị trí dẫn đầu trong nhóm rau quả xuất khẩu của Việt Nam. Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này đạt khoảng 3,86 tỷ USD, tăng hơn 20% so với năm trước và chiếm trên 45% tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả.
Theo Hiệp hội Rau quả Việt Nam, riêng tháng 7, xuất khẩu sầu riêng đạt khoảng 600-700 triệu USD, đưa kim ngạch 7 tháng lên khoảng 1,8 tỷ USD, tăng gần 30% so với cùng kỳ năm ngoái. Từ nay đến cuối năm, dự kiến khoảng 1,3 triệu tấn sầu riêng bước vào kỳ thu hoạch, tạo dư địa để xuất khẩu tiếp tục tăng mạnh.
* Tại tòa soạn Báo Tiền Phong:
1. Ông Nguyễn Quốc Mạnh - Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, Bộ NN&MT
2. Ông Phạm Văn Duy - Phó Cục trưởng Cục Chất lượng, chế biến và phát triển thị trường, Bộ NN&MT
3. Ông Trần Thanh Hải - Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương
4. Ông Trần Anh Quý - Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
5. Bà Nguyễn Thị Quỳnh Chi - Đại diện Cục Hải quan, Bộ Tài chính
6. Ông Đinh Đức Hiệp - Đại diện Văn phòng SPS Việt Nam, Bộ NN&MT
7. Ông Nguyễn Thanh Bình - Chủ tịch Hiệp hội Rau quả Việt Nam
8. Ông Nguyễn Trí Ngọc - nguyên Cục trưởng Cục Trồng trọt, Phó Chủ tịch thường trực Tổng hội Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam.
9. Ông Nguyễn Đình Tùng - Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc Vina T&T Group
10. Ông Nguyễn Văn Mười - Chủ tịch CLB Doanh nghiệp Nông nghiệp nhiệt đới
11. Ông Vũ Duy Hải - Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Tập đoàn Vinacam
* Điểm cầu Đắk Lắk:
1. Bà Đặng Thị Thủy - Phó Giám đốc Sở NN&MT tỉnh Đắk Lắk
2. Ông Lê Anh Trung - Chủ tịch Hiệp hội sầu riêng Đắk Lắk
3. Ông Nguyễn Anh Tuấn - Trưởng Thuế tỉnh Đắk Lắk
4. Bà Lê Thị Thanh Huyền - Phó Chi cục trưởng Chi cục Hải quan khu vực XIV
5. Lãnh đạo các doanh nghiệp xuất khẩu sầu riêng, hợp tác xã, bà con nông dân và đại diện vùng sản xuất.