Bức tranh tuyển sinh lớp 10 Hà Nội: Nhiều trường tăng mạnh điểm chuẩn, cao nhất 8,5

TPO - Trường THPT Đỗ Mười năm nay có điểm chuẩn tăng 8,5 điểm so với năm ngoái. Đây cũng là trường có điểm chuẩn tăng cao nhất trong mùa tuyển sinh lớp 10 của Hà Nội năm 2026.

Kỳ tuyển sinh lớp 10 công lập Hà Nội năm 2026 cho thấy một bức tranh khá rõ nét: điểm chuẩn tăng là xu hướng chủ đạo, trong khi số trường giảm điểm tương đối ít.

Đáng chú ý, nhiều trường ở các khu vực ven đô, ngoại thành ghi nhận mức tăng rất mạnh, phản ánh sự thay đổi về chất lượng đầu vào cũng như sức hút của các cơ sở giáo dục trong những năm gần đây.

Điểm chuẩn tăng chiếm ưu thế tuyệt đối

Trong tổng số 122 trường THPT công lập của Hà Nội, có khoảng 80 trường tăng điểm chuẩn, khoảng 15 trường giảm điểm và hơn 10 trường giữ nguyên.

Những trường thuộc nhóm "top đầu" của Hà Nội, có truyền thống chất lượng đào tạo cao, vị trí thuận lợi tiếp tục giữ sức hút lớn đối với học sinh khá, giỏi.

img-3208.jpg
Thí sinh thảo luận sau giờ làm bài thi vào lớp 10.

Nhóm trường top đầu có mức tăng điểm chuẩn không đáng kể. Đáng chú ý, Trường THPT Yên Hoà năm nay tăng 1 điểm lên 26; Nguyễn Thị Minh Khai tăng 1 điểm; Nhân Chính tăng 1 điểm.

Phan Đình Phùng, Việt Đức, Kim Liên, Lê Quý Đôn - Hà Đông đều tăng nhẹ từ 0,5 điểm.

Điều này cho thấy cuộc cạnh tranh ở nhóm trường tốp đầu vẫn rất khốc liệt.

Trường bứt phá tăng ngoạn mục

Một trong những bất ngờ trong kỳ thi tuyển sinh lớp 10 năm nay là Trường THPT Đỗ Mười có mức điểm chuẩn 20,5, tăng 8,5 điểm so với năm ngoái. Đây là ngôi trường mới thành lập và tuyển sinh mùa thứ 2.

Mức tăng này phản ánh việc trường đã nhanh chóng tạo được sức hút sau giai đoạn đầu tuyển sinh hoặc có sự thay đổi đáng kể về quy mô, cơ sở vật chất và nhu cầu đăng ký của học sinh.

Ngoài ra, nhóm trường tăng từ 4 điểm đến gần 6 điểm gồm: Phúc Lợi, Thọ Xuân, Ứng Hoà A. Trong đó, Phúc Lợi tăng hơn năm ngoái 5,75 điểm...

Đây đều là những mức tăng rất hiếm gặp trong tuyển sinh lớp 10, cho thấy sự dịch chuyển đáng kể về lựa chọn nguyện vọng của thí sinh và phụ huynh.

Bên cạnh đó, các trường ven đô cũng có mức điểm tăng đáng kể như: Xuân Phương tăng 2,5, Đại Mỗ tăng 1,25, Hoài Đức A tăng 3, Thạch Bàn tăng 2,75...

Những con số này cho thấy khoảng cách giữa các trường trung tâm và vùng ven đang dần được thu hẹp.

Tuy vậy, xét một cách tổng thể, sự chênh lệch giữa trường có điểm chuẩn cao nhất và trường có điểm chuẩn thấp nhất của Hà Nội vẫn rất lớn.

Cụ thể, trường có mức điểm chuẩn cao nhất năm nay là 26 điểm và trường có mức điểm thấp nhất là 8,5 điểm. Điểm chuẩn của Trường TH, THCS và THPT Minh Châu chưa bằng trung bình 1 môn của nhóm trường có điểm chuẩn cao nhất. Trung bình mỗi môn thí sinh phải đạt được 8,66 điểm mới có thể đỗ vào Yên Hoà, Kim Liên, Lê Quý Đôn - Hà Đông.

Hay nói cách khác, khoảng cách giữa trường cao nhất và thấp nhất lên tới 17,5 điểm, cho thấy sự phân hóa rất rõ rệt về chất lượng giữa các khu vực tuyển sinh của Hà Nội.

img-4676.jpg

Bức tranh điểm chuẩn lớp 10 công lập Hà Nội năm 2026 phản ánh hai xu hướng song song: mặt bằng điểm chuẩn toàn thành phố tăng lên rõ rệt, đồng thời sức hút tuyển sinh đang dịch chuyển từ các trường trung tâm sang nhiều trường vùng ven và ngoại thành.

Nếu những năm trước sự cạnh tranh chủ yếu tập trung ở các trường "hot" nội đô, thì năm nay nhiều trường ngoại thành đã chứng kiến mức tăng điểm mạnh, cho thấy chất lượng giáo dục và niềm tin của phụ huynh đối với các trường này đang được cải thiện đáng kể.

Hoặc việc điều chỉnh chính sách tuyển sinh, trong đó thí sinh được đăng ký 3 nguyện vọng vào các trường THPT bất kỳ, không bị giới hạn bởi khu vực như trước có tác động đến điểm chuẩn, khi mà nhiều thí sinh tập trung đăng ký vào trường top giữa, trường vùng ven.

Điểm chuẩn 122 trường THPT công lập và mức tăng giảm so với năm 2025 như sau:

STT
Trường THPT
Điểm chuẩn năm 2026
Biến động tăng/giảm so với năm 2025
1
Nguyễn Trãi - Ba Đình
22,25
2
2
Phạm Hồng Thái
24
1,25
3
Phan Đình Phùng
25,75
0,5
4
Ba Vì
14
0
5
Bất Bạt
13,5
1,5
6
Minh Quang
10
0
7
Ngô Quyền - Ba Vì
16
-0,25
8
Quảng Oai
16,75
-0,75
9
PT Dân tộc nội trú
19,25
2,5
10
Minh Châu
8,5
-
11
Nguyễn Thị Minh Khai
25,75
1
12
Thượng Cát
22
3
13
Xuân Đỉnh
24,5
1
14
Cầu Giấy
24,5
0,75
15
Yên Hòa
26
1
16
Hoàng Quán Chi
23
0
17
Chúc Động
17,5
1,25
18
Chương Mỹ A
21,5
0,5
19
Chương Mỹ B
15,25
1,25
20
Xuân Mai
16,25
0,25
21
Nguyễn Văn Trỗi
14
0,5
22
Đan Phượng
21,25
0,75
23
Hồng Thái
16,75
0
24
Tân Lập
19,5
2,75
25
Thọ Xuân
16
6
26
Bắc Thăng Long
21,25
0,5
27
Cổ Loa
21,25
1
28
Đông Anh
18,75
0,25
29
Liên Hà
21,5
1,25
30
Vân Nội
18,25
-0,75
31
Phúc Thịnh
15,75
3,75
32
Việt Hùng
17
-
33
Đống Đa
22,75
0,75
34
Kim Liên
26
0,5
35
Lê Quý Đôn-Đống Đa
24,75
1
36
Quang Trung-Đống Đa
23,75
1
37
Hoàng Cầu
21,25
2
38
Cao Bá Quát-Gia Lâm
23,25
1,75
39
Dương Xá
20
1,25
40
Nguyễn Văn Cừ
19
0,25
41
Yên Viên
20
0,75
42
Lê Lợi
21,5
-
43
Lê Quý Đôn-Hà Đông
26
0,5
44
Quang Trung-Hà Đông
24
0,75
45
Trần Hưng Đạo-Hà Đông
20,5
-0,25
46
Đoàn Kết-Hai Bà Trưng
22,5
1,75
47
Thăng Long
25,5
1,25
48
Trần Nhân Tông
24
1,5
49
Hoài Đức A
22
3
50
Hoài Đức B
20,25
1
51
Vạn Xuân-Hoài Đức
18,5
1,5
52
Hoài Đức C
17,75
0
53
Trần Phú-Hoàn Kiếm
24,75
1
54
Việt Đức
25,75
0,5
55
Hoàng Văn Thụ
21,75
1,25
56
Trương Định
22,75
1,5
57
Việt Nam-Ba Lan
23,75
2,5
58
Đỗ Mười
20,5
8,5
59
Lý Thường Kiệt
23,5
2,5
60
Nguyễn Gia Thiều
25,25
0,25
61
Phúc Lợi
20,25
5,75
62
Thạch Bàn
20
2,75
63
Mê Linh
20
1,25
64
Quang Minh
15
-1,75
65
Tiền Phong
16,25
-0,25
66
Tiến Thịnh
14
-0,75
67
Tự Lập
14
0,5
68
Yên Lãng
17,5
-1,25
69
Hợp Thanh
12,5
-1,25
70
Mỹ Đức A
17,25
1,75
71
Mỹ Đức B
15
-1,5
72
Mỹ Đức C
9
-3,5
73
Đại Mỗ
20
1,25
74
Trung Văn
21,5
1,5
75
Xuân Phương
22,5
2,5
76
Mỹ Đình
24,25
1,25
77
Đồng Quan
16,5
2,5
78
Phú Xuyên A
17
1,75
79
Phú Xuyên B
14
0
80
Tân Dân
14,25
0,75
81
Ngọc Tảo
15,25
-0,25
82
Phúc Thọ
15,25
-0,75
83
Vân Cốc
14,25
-0,25
84
Cao Bá Quát-Quốc Oai
17
1
85
Minh Khai
16
0,75
86
Quốc Oai
21,25
0,25
87
Phan Huy Chú-Quốc Oai
16
1
88
Đa Phúc
18,5
-0,25
89
Kim Anh
17
0
90
Minh Phú
15,25
-0,25
91
Sóc Sơn
19,75
0
92
Trung Giã
15,5
-1,75
93
Xuân Giang
15,5
-1
94
Tùng Thiện
19,25
-1,25
95
Xuân Khanh
14,5
1,5
96
Tây Hồ
22,75
1
97
Bắc Lương Sơn
13
3
98
Hai Bà Trưng-Thạch Thất
14
0,75
99
Phùng Khắc Khoan-Thạch Thất
16,25
2,5
100
Thạch Thất
18,25
1
101
Minh Hà
14,75
0,75
102
Nguyễn Du-Thanh Oai
16,5
0,5
103
Thanh Oai A
16,5
1
104
Thanh Oai B
19,25
2,75
105
Ngọc Hồi
22
2
106
Ngô Thì Nhậm
20,75
-0,5
107
Đông Mỹ
19,25
1,75
108
Nguyễn Quốc Trinh
18,5
0
109
Nhân Chính
25
1
110
Trần Hưng Đạo-Thanh Xuân
22,75
2,25
111
Khương Đình
22
1,75
112
Khương Hạ
20
-0,25
113
Lý Tử Tấn
15
1
114
Nguyễn Trãi-Thường Tín
17,5
2,5
115
Tô Hiệu-Thường Tín
14,75
-0,25
116
Thường Tín
19,5
-0,5
117
Vân Tảo
16
0,25
118
Đại Cường
12
2
119
Lưu Hoàng
11
1
120
Trần Đăng Ninh
14,75
0
121
Ứng Hoà A
16
4
122
Ứng Hoà B
13
3