Thế hệ “xếp bút nghiên”
Ai đã đọc Chinh phụ ngâm nổi tiếng của Đặng Trần Côn (qua bản dịch của Đoàn Thị Điểm) hẳn sẽ nhớ những câu như “Chàng trai trẻ vốn dòng hào kiệt/ Xếp bút nghiên theo việc binh đao”. Một “thế hệ vàng” quý giá từ Cách mạng Tháng Tám 1945, khi đang chuyên tâm đèn sách bèn xếp bút nghiên hăng hái lên đường cứu nước, nhiệt huyết tham gia kháng chiến trường kỳ, trừ họa ngoại xâm, thống nhất đất nước và luôn vững vàng theo đuổi đến cùng con đường mình đã chọn.
Có một sự trùng hợp khá đặc biệt trong lịch sử, đó là sau khi Nhật đảo chính Pháp (tháng 3/1945), chính phủ thân Nhật Trần Trọng Kim khi nắm quyền đã thành lập Trường Thanh niên tiền tuyến Huế với mục đích đào tạo sĩ quan phục vụ cho chính phủ mới. Nhưng điều đặc biệt đây là ngôi trường “xanh vỏ, đỏ lòng”. Vì người sáng lập trường là vị trí thức lớn - GS Tạ Quang Bửu (cùng với luật sư Phan Anh), là cựu học sinh Quốc học Huế vốn giàu lòng yêu nước và tinh thần dân tộc. Bằng uy tín của mình, ông Tạ Quang Bửu đã kêu gọi các trí thức yêu nước, những cựu học sinh trường Quốc học Huế đầu quân vào trường võ bị này.
Ông kêu gọi, và nhắc nhủ rằng: “Tình hình thế nào, các anh em cũng cần có kiến thức về quân sự, Trường Thanh niên Tiền tuyến không đặt điều kiện cho sinh viên phải phục vụ cho chính phủ hiện nay. Các anh được đảm bảo chọn con đường riêng của các anh”.
Nhiều trí thức ưu tú là cựu học sinh Quốc học Huế đã hăng hái tham gia với ý thức cứu nước rõ rệt, phát triển tài năng quân sự, về sau trở thành những tướng tài của Quân đội Nhân dân Việt Nam như Cao Văn Khánh, Cao Pha, Đặng Văn Việt, Tôn Thất Hoàng,… Hiệu trưởng Trường Thanh niên Tiền tuyến là Phan Tử Lăng, cựu học sinh Quốc học, thủ khoa trường sĩ quan chính quy Pháp, chỉ huy trưởng Bảo an Trung Kỳ. Khi Cách mạng Tháng tám nổ ra tại Huế, Trung úy Phan Tử Lăng đã cùng các học viên ôm súng hướng theo ngọn cờ Việt Minh. Sau này, ông trở thành Đại tá Cục trưởng Cục Quân chính đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam, được Bác Hồ tin tưởng.
Kéo cờ độc lập ở Ngọ Môn Huế
Trước khi vua Bảo Đại đọc chiếu thoái vị tại Huế 2 ngày, vào ngày 21/8/1945, hai trí thức trẻ là Đặng Văn Việt và Cao Pha (Nguyễn Thế Lương) được tổ chức Việt Minh phân công hạ cờ quẻ Ly của triều đình Huế xuống, treo cờ đỏ sao vàng lên kỳ đài Ngọ Môn. Cột cờ này có cả một đội lính canh gác khá nghiêm ngặt.
Ông Đặng Văn Việt nhớ lại: “Tất cả binh hỏa lực để xung trận là “hai đứa tui”, là khẩu barillet to đùng bằng bàn tay và 6 viên đạn út”. Nhưng với lòng quả cảm và khí thế cách mạng dâng cao nên họ đã hoàn thành nhiệm vụ khó khăn và vô cùng nguy hiểm. Khi lá cờ quẻ Ly hạ xuống, lá cờ đỏ sao vàng được đưa lên, hai thanh niên cách mạng và cả đội lính dõng dạc chào theo nghi thức quân đội trong tiếng reo hò của nhân dân xung quanh.
Sau đó 2 ngày, trong lễ thoái vị, viên lãnh binh Nam Triều nói với hai chàng sinh viên hôm trước kéo cờ, rằng “Hôm hạ cờ nhà vua, cả đại đội lính khố vàng chúng tôi nằm rạp dọc thành cổng Ngọ Môn. Hơn 100 tay súng chĩa về các anh. Xin ý kiến Hoàng đế, ngài bảo “Chớ, chớ, Việt Minh đấy…”.
Những thanh niên cựu học sinh Quốc học Huế như Nguyễn Thế Lâm trở thành Đại đoàn trưởng trong kháng chiến chống Pháp, cuối đời là Tư lệnh binh chủng Tăng thiết giáp, Cao Pha là Phó Tư lệnh bộ đội Đặc công, Cao Văn Khánh là Trung tướng, Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam, còn Đặng Văn Việt là Trung đoàn trưởng, đánh giặc Pháp giỏi đến mức được mệnh danh là “Hùm xám Đường số 4”…
Những người thầy chiến đấu, hy sinh
Họ là những thầy giáo, sinh viên, học sinh, trong đó nhiều người từ trường Quốc học Huế tập kết ra Bắc từ năm 1954, hay lên chiến khu tham gia kháng chiến chống Mỹ hoặc xuống đường cùng đồng bào trong phong trào đấu tranh đô thị đòi thực hiện quyền dân chủ, dân sinh, đòi ngoại bang rời khỏi miền Nam để dân Việt quyết và kêu gọi chấm dứt chiến tranh, đem lại hòa bình cho quê hương đất nước. Trong những tên tuổi tận hiến cho Tổ quốc ngày hôm qua, có thầy giáo Ngô Kha (1935-1973) từ học sinh Quốc học trở thành giáo viên của chính ngôi trường này, hay thầy giáo Trần Quang Long (1941-1968) học sinh Quốc học rồi tốt nghiệp Đại học Sư phạm và đi dạy nhiều nơi…
Nhắc đến Ngô Kha, nhiều người vẫn nhớ đến tập thơ “Ngụ ngôn của người đãng trí” của ông. Một nhà giáo, nhà thơ say đắm thơ siêu thực nhưng lại cũng không hề một phút nào sao nhãng trước hiện thực nóng bỏng của đất nước nên đã xung phong tham gia phong trào yêu nước của đô thị miền Nam bất chấp gian nan, nguy hiểm. Ông vẫn luôn hiện diện với tư cách là một nhà thơ chiến sĩ. Ông kêu gọi tranh đấu và xuống đường cùng với đồng bào, đồng môn, học trò.
Năm 1966, trong biến động miền Trung, khi xuất hiện đơn vị quân đội Sài Gòn ly khai chính quyền và phản chiến, thầy giáo Ngô Kha đã thành lập “Chiến đoàn Nguyễn Đại Thức” để tập hợp lực lượng chống Mỹ-Thiệu. Khi cuộc đấu tranh thất bại, ông bị bắt đi đày ở Phú Quốc một thời gian. Ông đã viết những câu thơ thật hiên ngang, mạnh mẽ “Con nước phù sa đắp bồi thành lũy/ Giọt máu kiên cường nuôi lúa đồng hoang/ Em vẫn dày công trên đường kháng chiến/ Mãi có anh hùng chí hướng bền gan” (Mai có hòa bình).
Suốt chiều dài lịch sử, nhiều thế hệ học sinh Quốc học Huế được tắm gội, hít thở trong bầu khí quyển của tinh thần yêu nước hừng hực đã dấn thân và tận hiến. Những con người như vậy đã dùng chính máu đào từ trái tim mình để viết lên những dòng son trong lịch sử quật cường của dân tộc Việt Nam.
Sau nhiều lần xuống đường, bị địch bắt rồi được đồng nghiệp, học trò đấu tranh nên được thả ra, lần cuối vào năm 1973, ông bị địch bắt và thủ tiêu. Năm 1981 ông được Nhà nước công nhận là liệt sĩ.
Nhà giáo, nhà thơ Trần Quang Long cũng đã sống một cuộc đời tuy ngắn ngủi nhưng luôn sôi động và tràn đầy ý nghĩa nhân sinh. Ông đã tham gia hết mình trong phong trào đấu tranh của sinh viên, học sinh ở Huế, rồi sau này đi dạy ở phía Nam, ông cũng không ngừng xuống đường hăm hở với tâm nguyện cháy bỏng vì hòa bình, thống nhất non sông. Ông bày tỏ một thái độ sống trực diện, mạnh mẽ và quyết liệt đến cùng, viết như đã sống và sống như đã viết.
Thầy giáo Trần Quang Long đã hy sinh trong một trận địch ném bom ở Tây Ninh năm 1968. Một cuộc đời tận hiến, như những câu thơ của ông trong bài thơ “Thưa mẹ, trái tim”: “Nếu thơ con bất lực/ Con xin nguyện trọn đời/ Dùng chính trái tim mình thành trái phá/ Sống chết một lần thôi”.