Hai thi sĩ mù xứ Nẫu

Hai thi sĩ mù xứ Nẫu
TP - Hai số phận kỳ lạ của 2 thi sĩ mù xứ Nẫu (tên gọi khác chỉ vùng đất Bình Định, Phú Yên đã đi vào ca dao tục ngữ từ lâu). Một người mới 2 tuổi đã mù mắt, mù chữ. Một bị mù khi đang ngồi trên ghế giảng đường đại học. Họ sáng tác hàng trăm bài thơ, cùng nhiều tài lẻ.
Anh Hòa giúp vợ đóng gói chè Thái Nguyên
Anh Hòa giúp vợ đóng gói chè Thái Nguyên.

Họ là thi sĩ mù Huỳnh Duy Siêng (71 tuổi, xã Hòa An) và Lê Đình Hòa (50 tuổi, phường Phú Lâm, cùng ở TP Tuy Hòa, Phú Yên)

Tiếng thơ - “Tiếng khóc của thằng …tôi”

Lão Siêng ở cuối thôn Đông Phước (Hòa An), trong căn phòng nhỏ hơn chục mét vuông nằm sát bên mé nhà của người em trai. Gần chục năm nay, cả gia đình từ bỏ phố thị ồn ào để về miền quê tĩnh lặng. Lão Siêng cẩn thận lấy ra cuốn sách nhàu cũ đủ các loại tiểu thuyết của Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố… và những tập vở ô ly.

Phần lớn bài thơ trong vở được chép bằng nét bút của người bạn là nhà thơ Nguyễn Châu Liêng (Phú Yên). Một số bài chỉ kịp viết tên, rồi gạch bỏ.

Thi sĩ Siêng bảo: Tôi “soạn” thơ trong đầu, nhẩm đi nhẩm lại cho nhớ, rồi gọi bạn đến chép giùm. Nhiều bài đang chép bị quên lửng mất nên đành chịu.

Ông Siêng có một số bài thơ được đưa vào SGK dạy học cho học sinh trước năm 1975. Như bài thơ “Về quê nội”, “Mưa” trong Quốc văn toàn thư (lớp Nhì), “Mặt trời trung thu” (ký bút danh Trà Bẩy) trong sách Việt ngữ tân thư (lớp Nhì) và “Em tôi” trong Việt ngữ tân thư (lớp Ba). “Về quê nội” là bài thơ đầu tiên của ông được in trong SGK. Những bài đăng SGK được nhuận bút rất cao. Ông Siêng kể, riêng nhuận bút bài thơ này ông đủ mua một đôi giầy xịn thời đó.

Về quê nội

Sung sướng quá tôi trở về quê cũ

Nhìn cánh đồng thẳng tắp lúa mênh mông

Tình quê hương thơm ngát đắm say lòng

Khoai bắp đậu uốn mình suông cánh gió

Về quê nội tôi thấy lòng gắn bó

Tình yêu thương rộng trải hết tâm hồn…

Ở tuổi thất thập, lão Siêng trông còn khá mạnh khỏe. “Bài thơ đầu tiên ông viết là gì ?”. “Làm sao nhớ được, tôi làm nhiều lắm, có lúc một ngày đến cả vài ba bài lận”- lão nói - “Cảm xúc đến đâu, làm đến đó.

Chỉ nhớ nhất những bài được SGK của chính quyền cũ thời trước đưa vào cho trẻ em học như “Quê nội”, “Quê hương tôi”, và cả trên báo Tiền Phong với bài “Tìm quên ta” cách đây vài chục năm rồi. Lão chầm chậm đọc: “Vần thơ đo nỗi nhớ/ Hoàng hôn tím quanh nhà/ Đêm nay bình hết rượu/ Làm sao tìm quên ta”.

Gần 30 tuổi, lão Siêng mới “tập tành” làm thơ. Người thường làm thơ đã khó, với lão lại càng khó hơn. Lão bị mù khi mới hơn 2 tuổi sau khi mắc thủy đậu.

“Đến giờ tôi cũng chẳng nhớ những gì mình kịp nhìn thấy khi còn sáng mắt”, lão kể. Bỏ chiếc kính râm, hai đôi mắt nhắm tịt của lão như cố hấp háy thoát ra khỏi ngục tối. Khiếm thị, cậu bé Siêng không thể đến trường. Mù chữ. Nhưng ham nghe đọc sách. 4-5 tuổi, Siêng theo mấy đám bạn chăn trâu, đưa tiền cho bạn nhờ mua sách rồi đem ra đồng đọc cho mình nghe.

“Hồi hơn 10 tuổi, tôi bắt đầu nghe đọc về các tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Tự lực văn đoàn, Nguyễn Du… Tôi tự tưởng tượng ra thế giới của mình trong văn chương. Khó nhất vẫn là cảm nhận màu sắc, sáng tối”.

Khả năng cảm nhận, liên tưởng như chất xúc tác mạnh mẽ dẫn chàng trai trẻ Duy Siêng “xuất khẩu thành thơ”. Tất cả hỉ, nộ, ái, ố, đều được gửi gắm trong thơ; lúc buồn, cô đơn, khi tràn trề hy vọng.

Nhưng nhiều nhất vẫn là nhóm đề tài thân phận, tự trách giận mình để thêm nghị lực phấn đấu, vượt qua nghịch cảnh:“Tiếng mưa hay tiếng khóc/ Tiếng khóc của thằng tôi/Mang kiếp nghèo lăn lóc/ Buồn như lá khô rơi… Chiều nay ra ngõ vắng/Lần bước một mình tôi/Ngác ngơ tìm ánh nắng/Mong sưởi ấm cuộc đời” (Ngày không nắng).

Bơi vượt đỉnh lũ

Chuyện lão Siêng hay bơi qua sông đào khoai sắn cho các bạn thơ không còn xa lạ. Từ nhỏ, biết mình khiếm thị, Siêng nhờ cha dẫn ra biển tập bơi. Tất cả phương hướng, vị trí đều được xác định bằng kinh nghiệm.

Dạo 7 tuổi, có lần Siêng theo bạn đến trường nghe lén thầy cô giảng bài ngoài lớp học. Lúc về trời mưa gió, cả vùng thấp trũng bị cô lập. Siêng sợ không dám về nhà. Gần nửa ngày tìm con, cuối cùng mẹ Siêng tìm được cậu bé khi đang ôm chặt mình vào cây tre giữa dòng nước lênh láng. Từ đó, Siêng quyết định học bơi.

Tác giả trò chuyện với thi sĩ mù Huỳnh Duy Siêng
Tác giả trò chuyện với thi sĩ mù Huỳnh Duy Siêng .

Nhiều nhà thơ trong nhóm Thơ Hương Trăng do lão Siêng góp sức gầy dựng (từ những năm 1990, sau đó giải thể) gặp nhau vẫn kể câu chuyện lão Siêng dẫn đầu cả nhóm bơi vượt đỉnh lũ như kỳ tích.

Số là năm 1993, khi nhóm Thơ Hương Trăng sinh hoat tại nhà một nhà thơ tên Hoàng trong nhóm. Bất ngờ, tối đó giông tố ngút trời, cả Tuy Hòa mưa như trút nước, con sông Chùa (xã Bình Ngọc, Tuy Hòa) bị lũ dữ cô lập. Cả nhóm thơ không thể về nhà bằng đường bộ.

“Mọi người hoảng loạn. Bất ngờ ông Siêng lớn tiếng nói chỉ có con đường qua sông là an toàn, kịp thời nhất. Rồi ông phóng mình xuống dòng nước cuộn chảy, bơi qua sông đến vài chục mét. Mọi người đi theo và thoát nạn”, nhà thơ Liêng kể.

“Có lẽ tại tôi không thấy gì nên không biết sợ. Lúc tới bờ nghe mọi người kể mới biết nước lớn và chảy mạnh”, lão Siêng cười nói.

Mê chất thơ giàu cảm xúc, khâm phục nghị lực của Nguyễn Duy Siêng, cánh văn thơ nghệ sĩ xứ Nẫu kết thân thành thi hữu với lão, nhiều không kể xuể. Bạn bè đọc sách cho cậu bé Siêng hồi nhỏ, giờ hầu hết đều mê thơ.

Nhà thơ Lê Khánh Nam (nguyên Chánh văn phòng UBND thị xã Tuy Hòa cũ) hay Nguyễn Hanh (tiến sĩ toán học giảng dạy ở ĐH Cần Thơ) là những người trong số đó.

Thi sĩ mù lấy vợ bằng thơ

Căn nhà nhỏ bên góc chợ Phú Lâm (TP Tuy Hòa) là nơi vợ chồng thi sĩ Lê Đình Hòa hàng ngày bán chè thương hiệu Thái Nguyên cho khách thập phương.

Nhà thơ mù Lê Đình Hòa
Nhà thơ mù Lê Đình Hòa.

Bị mù, anh Hòa tháo vát giúp vợ đóng gói chè, thu tiền. Lúc vui anh lại đọc thơ tặng khách. “Cuộc đời tôi nhờ thơ mà thêm nghị lực và cũng vì thơ mà có vợ”.

Nghe chồng khoe, trong nhà, chị Trần Thị Hạnh (hay gọi Hạnh Vân) tỏ ra… bối rối. Kém anh Hòa 1 tuổi, nhưng chị Vân nhìn trẻ hơn nhiều, đượm nét đẹp dịu dàng của người con gái xứ chè Thái Nguyên.

Chị Hạnh đột nhiên quyết định lấy thi sĩ mù xứ Nẫu từng làm râm ran giới thơ Phú Yên, như cổ tích. Chị Hạnh bảo: Mê thơ rồi mê luôn ảnh, chứ ai ngờ trước được nhân duyên.

Lớn lên như bao người bình thường, năm 1983, anh Hòa bước vào giảng đường ĐH Quy Nhơn. Khát vọng trở thành thầy giáo khoa Văn đổ sập khi đôi mắt anh dần mờ rồi tối hẳn sau cơn đau khớp, thần kinh.

Hơn năm trời chạy chữa khắp các bệnh viện, tây y rồi đông y, bệnh đau thấp khớp khỏi nhưng đôi mắt của chàng sinh viên năm 2 mờ dần. Vài tháng sau, anh nhận bệnh án: mắt mù hẳn. Bỏ học, đời anh như vực thẳm.

Trong lúc bế tắc, anh thử làm vài câu thơ cho khuây khỏa. Bạn bè đọc thấy hay nên động viên. Mỗi lần viết thơ, anh bẻ gập tờ giấy theo từng dòng để đánh dấu, ngắt đoạn, rồi cứ thế hình dung qua nét viết.

Làm khá nhiều thơ, nhưng đến bài “Nhớ Bùi Giáng”, viết năm 2001, trong lần vào khám mắt ở Sài Gòn, cái tên Lê Đình Hòa mới được sự chú ý.

Cũng nhờ tác phẩm này, anh được xét giải “Tình thơ” của Hội Văn học nghệ thuật TPHCM). Rồi tạp chí Tài hoa trẻ tìm đến và viết về thi sĩ mù Lê Đình Hòa.

Bài viết trên Tài hoa trẻ về anh Hòa đăng năm 2003, nhưng mãi đến năm 2005, duyên số thế nào, cuốn tạp chí đến tay chị Vân (quê Đại Từ, Thái Nguyên), đang là giáo viên mầm non ở huyện Ba Bể (Bắc Kạn).

Khâm phục, cảm thương số phận thi sĩ mù, chị Hoa chủ động viết thư làm quen. “Lúc đó tôi nhận được nhiều thư lắm. Thư chia sẻ, động viên, thư của thi hữu… nhưng riêng thư của Vân thì chỉ cần nhận đã gây được ấn tượng ngay. Vì thư không phải bằng giấy viết mà bằng một cuộn băng cassette”, anh Hòa kể.

Vội vàng mở ra nghe. Sau một bài hát của Trịnh Công Sơn, anh Hòa bỗng thấy chất giọng người con gái nhẹ nhàng đang tâm sự cùng mình.

Từ đó, hai người thư qua, thư lại. Ban đầu chỉ là những lời giới thiệu, làm thân, rồi cứ thế bày tỏ cảm xúc rất thật, rất riêng. Mỗi lần nhận thư từ phương Bắc, anh Hòa như thăng hoa cảm xúc, gửi thơ “thay lời muốn nói”.

Từ những bài thơ “Nhớ” ngụ ý xa xôi “Con sóng nhớ vùi đầu vào bờ cát”, đến bài “Thương về miền phương Bắc”, “Thương miền hoa phượng”, “Thương người gửi áo” và “Cõi Hạnh”.

Xiêu lòng trước “cõi lòng”của thi sĩ mù, đầu hè năm 2005, chị Hạnh bắt xe từ Bắc Kạn vào Phú Yên để gặp gỡ. Vài tháng sau chuyến đi, 2 người làm đám cưới giản dị trong gia đình anh Hòa.

“Buổi gặp đó, tôi càng thấy hai người tâm đầu ý hợp. Mình từng có một đời chồng nhưng cuộc sống không như ý muốn. Anh Hòa có những nỗi niềm riêng, nhưng cả hai cùng san sẻ”, chị Hạnh nói.

Cùng chuyên mục

Bãi sậy sông Đầm là mái nhà yên bình của nhiều loài chim, trong đó có cả cò nhạn Ảnh: Đ.T

Về nơi đàn cò ở lại

TP - Có một nơi mà bao năm qua đàn cò hàng ngàn con chọn làm nhà, sáng chiều sải cánh tự do kiếm ăn, tối về ngủ bên rặng dừa mà chẳng mảy may lo bị bẫy bắt. Nơi ấy là bãi sậy sông Đầm (thuộc phường Bàn Thạch, thành phố Đà Nẵng).

Tượng đài Nguyễn Tất Thành – Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Trường Quốc học Huế Ảnh: QH Huế

130 năm trường Quốc học Huế: Ngôi trường của tuấn kiệt, anh thư

TP - Trong nhiều lần trò chuyện với thạc sĩ Sử học Nguyễn Đình Dũng, người từng dạy môn lịch sử ở Đại học Huế và cũng từng công tác tại Bảo tàng Hồ Chí Minh TP Huế, thường nghe anh nói rằng: “Trường Quốc học Huế là ngôi trường vĩ đại, là chiếc nôi đào tạo lớp lớp hiền tài đóng góp rất lớn cho lịch sử đất nước. Họ đích thực là những tuấn kiệt, anh thư. Trong đó có vai trò đặc biệt quan trọng của người học sinh Nguyễn Sinh Côn, sau này là Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại”.

Rắn độc và rừng hoang đã 'bỏ bùa' họ như thế đó

Rắn độc và rừng hoang đã 'bỏ bùa' họ như thế đó

TPO - Suốt nhiều năm, thỉnh thoảng tôi vẫn được những vị khách phương xa, trong đó có cả khách Âu - Mỹ, nhờ dẫn đến những khu nhà hàng đặc sản thịt rắn như Lệ Mật để “thử món lạ”. Có những nhà báo châu Âu quyết tâm trải nghiệm đến cùng, giá cả chẳng thành vấn đề, cứ như thể đã đặt chân đến Hà Nội mà chưa nếm thịt rắn thì chuyến đi vẫn còn thiếu một điều gì đó. Vậy mà, khi tận mắt thấy quả tim rắn vẫn còn đập trong chiếc cốc thủy tinh, bên cạnh là thứ tiết đỏ au được khuấy bằng một cọng sả trắng nõn, không ít người bỗng chốc đổi ý. Họ lịch sự xin phép được dừng lại ở mức “chiêm ngưỡng”, nhường phần “thưởng thức” cho những người can đảm hơn.

Ông Nguyễn Hồng Quang tỉ mỉ, chăm chút từng sản phẩm mới

Khắc khoải về làng gốm cổ Hương Canh

TP - Từng có gần 400 hộ làm nghề, gốm Hương Canh (xã Bình Nguyên, tỉnh Phú Thọ) nay chỉ còn 4 hộ bền bỉ giữ lửa cho nghề gốm cổ. Được tạo nên từ nguồn đất trầm tích đặc biệt của địa phương, dòng gốm sành không men nổi tiếng bởi độ bền chắc và sắc màu trầm mộc mạc đang đối mặt với những khó khăn về đầu ra và nguy cơ thiếu người kế nghiệp.

Anh Lưu Quang Hà bên sản phẩm bê tông nghệ thuật của Công ty

'Chúa chổm' xứ Tuyên đúc nên cơ nghiệp

TP - Lưu Quang Hà vừa rời giảng đường đại học, bước chân khởi nghiệp liền bị quỵt tiền, phải vay nặng lãi để sống. Ở nhà, bố mắc ung thư phổi, gia đình khánh kiệt, khiến anh Hà nhiều đêm bật khóc. Nhưng rồi, anh đứng dậy, gây dựng công ty chuyên làm sản phẩm bê tông nghệ thuật – ngành nghề mà anh được học, doanh thu tiền tỷ, tạo việc làm cho gần 20 lao động. Anh còn là Bí thư Chi đoàn ở tổ dân phố.

Công an cơ sở tuyên truyền, vận động người dân xóa bỏ hủ tục nghi kỵ “cầm đồ thuốc độc” Ảnh: NN

'Bóng ma đồ độc' ám ảnh vùng cao Quảng Ngãi

TP - Ở một số bản làng miền núi Quảng Ngãi, hủ tục nghi kỵ “cầm đồ thuốc độc” vẫn âm ỉ tồn tại, len vào những mâu thuẫn đời thường, những cơn bệnh chưa được lý giải bằng khoa học. Từ một lời phán của thầy cúng, hàng xóm có thể thành kẻ thù, người vô tội bị cô lập, đánh đập, thậm chí mất mạng.

Cán bộ Trạm Y tế xã Buôn Đôn đi bộ đến từng hộ dân tại buôn Đrăng Phốk để tiêm vắc xin cho trẻ

'Cõng' vắc xin tìm trẻ giữa đại ngàn

TP - Không để người dân vất vả đưa con đến trạm y tế, vào ngày 16 hằng tháng, cán bộ y tế xã vùng xa tỉnh Đắk Lắk vượt hơn 20km đường rừng đều đặn mang vắc xin vào tận buôn. Chuyến đi của họ đã mang thêm một lớp bảo vệ đến với những đứa trẻ nơi vùng lõi rừng, từng ngày rút ngắn giữa dịch vụ y tế và người dân.

Giếng cổ được người dân tự hào giới thiệu với khách đến thăm đảo

Bí ẩn giếng cổ ở xã đảo Đà Nẵng

TP - Giữa vùng biển đảo quanh năm nắng gió, nơi từng giọt nước ngọt quý hơn vàng, hai giếng cổ dưới chân núi Bàn Than ở Tam Hải vẫn trong veo, mát lành qua hàng trăm năm.

Cựu chiến binh Nguyễn Duy Kháng và cô giáo HươngẢnh: Lê Văn Chương

Những người lính ở lại núi Dàng-Bài cuối: Trái tim cô giáo trẻ dành trọn tiếng "tít te"

TP - Tháng 2/1970, bên dòng sông Vệ (Hành Thịnh, Quảng Ngãi), những chiếc HU-1A còn gọi là tàu rọ liên tục quần đảo, gầm rít trên bầu trời. Giữa khói lửa chiến tranh, trái tim một cô giáo trẻ lại bị cuốn vào âm thanh “tít te” không ngừng của một cậu lính thông tin quê Thái Bình. “Cái này bí mật, không thể giải thích” – chàng lính Nguyễn Duy Kháng mỉm cười nói với cô giáo Nguyễn Thị Thanh Hương về công việc của mình.

Cựu chiến binh Lại Vũ Yên và bà Nguyễn Thị Bè, mối tình và đám cưới trong chiến tranh, giờ đây đã hơn 50 năm Ảnh: Lê Văn Chương

Những người lính ở lại núi Dàng-Bài 2: Mối tình người lính quân y và nữ du kích

TP - Trước năm 1975, địch xem xã Hành Thịnh là một trong những cái gai rất khó nhổ. Bởi đây là một xã đồng bằng của Quảng Ngãi nhưng lại có rất nhiều ngọn núi: núi Dàng, núi Đuôi Chuột, núi Rố, núi Gò Đồn, núi và rừng Ông Đương, gò Rú. Địa thế hiểm trở vốn là lợi thế của quân giải phóng và là vùng đất chết đối với quân đội chính quyền Sài Gòn. Y sĩ Lại Vũ Yên đã trải qua những ngày gian nan tại đây, sau đó kết hôn với cô du kích…

 Ông Trương Minh Hải, Tổ trưởng Tổ cộng đồng bảo vệ nguồn lợi thủy sản phường Hồng Ngự chăm sóc đàn cá tự nhiên Ảnh: Hoà Hội

'Ngôi nhà' của đàn cá trên sông Tiền

TP - Xuất phát từ ý tưởng giữ cá lại với dòng sông, người dân vùng đầu nguồn Hồng Ngự (Đồng Tháp) đã biến đoạn bờ kè bình dị thành “bến đỗ an toàn” của đàn cá hàng nghìn con. Cá được cho ăn, bảo vệ và sinh trưởng tự nhiên. Mô hình độc đáo này không chỉ góp phần bảo vệ nguồn lợi thủy sản mà còn đánh thức tình yêu thiên nhiên trong cộng đồng.

Chiến dịch 500 ngày đêm đang được tổ chức tại nghĩa trang liệt sĩ Hành Thịnh, xã Đình Cương. Trong số các liệt sĩ nằm lại, có nhiều người là đồng đội của vợ chồng ông Tân Ảnh: Lê Văn Chương

Những người lính ở lại núi Dàng: Mối tình lính DKB và cô y tá

TP - Cách đây hơn nửa thế kỷ, khi đất nước hòa bình, hầu hết những người lính gác lại súng gươm để trở về với quê nhà, mang theo ký ức của một thời hoa lửa. Thế nhưng, tại xã Hành Thịnh (nay là xã Đình Cương) nằm dưới chân núi Dàng- vùng căn cứ cách mạng của Quảng Ngãi, vẫn có những người lính ở lại. Đầu tháng 9 này, họ đang lặng lẽ dõi theo từng nhát cuốc của Đội tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ đang thực hiện Chiến dịch 500 ngày đêm.