Đề xuất cơ chế đặc thù
Theo Bộ Công Thương, tiến độ thực hiện các dự án điện theo Quy hoạch điện VIII hiện rất chậm. Nếu các dự án nguồn và lưới điện tiếp tục chậm tiến độ, hệ thống điện quốc gia có thể thiếu khoảng 4.256 MW công suất với 2,9 tỷ kWh điện năng trong năm 2027. Mức thiếu hụt dự báo tiếp tục tăng mạnh từ năm 2028 - 2030.
Áp lực lớn tập trung ở miền Bắc. Năm 2027, khu vực này có thể thiếu khoảng 5.680 MW công suất; đến năm 2030, mức thiếu hụt dự kiến lên 13.026 MW.
Trước tình hình này, Bộ Công Thương đề xuất xem xét bổ sung một số dự án nhiệt điện than và có lộ trình lắp kèm hệ thống thu giữ các bon (CCS); phấn đấu đưa vào vận hành 5.300 MW nhiệt điện than mới năm 2030 tại các khu vực nằm gần trung tâm phụ tải (Quảng Ninh, Hưng Yên, Quảng Trị, Cần Thơ).
Bộ Công Thương kiến nghị Thủ tướng cho phép một số nhà máy nhiệt điện than miền Bắc được áp dụng cơ chế đặc thù “miễn trừ tạm thời” đến năm 2030 đối với quy chuẩn về nhiệt độ nước làm mát xả ra môi trường, trong tình huống hệ thống điện vận hành khẩn cấp.
Theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, tổng công suất nhiệt điện than ở mức 31.055 MW đến năm 2030, trong đó chỉ tiếp tục 5 dự án nhiệt điện than đang xây dựng, tổng công suất 4.360 MW, không bổ sung nhà máy than mới.
Riêng ba dự án nhiệt điện Nam Định I, Sông Hậu II, Vĩnh Tân III (với tổng công suất 5.300 MW) là nhóm đang vướng về vốn và thay đổi cơ cấu chủ đầu tư, Bộ Công Thương cho biết, sẽ tiếp tục trao đổi; đàm phán với chủ đầu tư để có phương án xử lý.
Cần tính đủ khả năng cung ứng và chi phí
Trao đổi với PV Tiền Phong, ông Ngô Tuấn Kiệt - nguyên Viện trưởng Viện Khoa học Năng lượng, cho rằng việc Bộ Công Thương xem xét lại vai trò nhiệt điện than là cần thiết trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao và các dự án LNG đều lỡ hẹn tiến độ.
Theo ông Kiệt, một số dự án nhiệt điện than từng được đưa vào Quy hoạch điện VII điều chỉnh đã được tính toán, cân nhắc khi xây dựng Quy hoạch điện VIII. Tuy nhiên, cách tiếp cận và tổ chức thực hiện thời gian qua chưa phù hợp, khiến không ít dự án kéo dài.
Ông Kiệt cho rằng, cần đánh giá khách quan các loại hình nguồn điện trên cơ sở công nghệ, hiệu quả kinh tế và khả năng bảo đảm cung ứng. Các nhà máy nhiệt điện than hiện sử dụng công nghệ siêu tới hạn; hệ thống xử lý chất ô nhiễm cũng được cải thiện. Trong khi đó, các dự án LNG phụ thuộc nhiều vào nguồn cung thiết bị từ một số nhà sản xuất lớn trên thế giới.
Ông Kiệt cũng nhận định giá thành sản xuất điện từ LNG có thể cao gần gấp đôi nhiệt điện than. Về thiết bị, các nhà máy than có thể sử dụng công nghệ tiên tiến sẵn có, còn nút thắt lớn nhất là thu xếp vốn.
“Về mặt kỹ thuật và khả năng cung cấp thiết bị, triển khai nhiệt điện than có tính khả thi cao hơn một số dự án LNG hiện nay. Vấn đề lớn nhất không nằm ở công nghệ mà là thu xếp nguồn vốn”, ông Kiệt nhận định.
Dẫn trường hợp dự án nhiệt điện Vĩnh Tân III nhiều năm chưa thể triển khai, ông Kiệt cho rằng, Việt Nam không nên tiếp tục trông chờ vào nguồn vốn nước ngoài, nhất là khi nhiều tổ chức tài chính quốc tế đã hạn chế tài trợ các dự án điện than. Nhà nước cần xác định rõ những công trình điện thiết yếu, xây dựng cơ chế huy động nguồn lực từ các tập đoàn kinh tế lớn và ngân hàng trong nước.
“Nếu xác định cần bổ sung khoảng 5.000-6.000 MW để bảo đảm cung ứng điện đến năm 2030, phải có ngay giải pháp tài chính tương ứng”, ông Kiệt nhấn mạnh.
Số liệu từ EVN, trong 9 tháng năm nay, sản lượng điện sản xuất và nhập khẩu toàn hệ thống đạt 265,7 tỷ kWh, tăng 9,3% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó nhiệt điện than đạt 132,6 tỷ kWh, chiếm 49%.