Đó là mục đích vừa được UBND tỉnh Vĩnh Long đề ra tại Kế hoạch triển khai chương trình của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về thực hiện Kết luận số 26-KL/TW ngày 24/4/2026 của Bộ Chính trị về phòng, chống sụt lún, sạt lở, ngập úng, hạn hán, xâm nhập mặn trên địa bàn tỉnh.
Mục tiêu đến năm 2030, Vĩnh Long cơ bản hoàn thành việc rà soát, sắp xếp, di dời, bố trí ổn định dân cư tại các khu vực có nguy cơ cao xảy ra sạt lở; bảo đảm người dân sau di dời có điều kiện ổn định cuộc sống, sinh kế bền vững và được tiếp cận đầy đủ các dịch vụ xã hội thiết yếu.
UBND tỉnh Vĩnh Long yêu cầu các sở ngành, UBND xã phường tăng cường quán triệt quan điểm chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu (BĐKH). Lồng ghép nội dung thích ứng với BĐKH, quản lý rủi ro thiên tai vào các chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức và các chương trình truyền thông cộng đồng. Lấy người dân làm trung tâm, là chủ thể, nâng cao khả năng chống chịu của cộng đồng trước tác động của BĐKH.
Người đứng đầu các sở ngành, UBND các xã phường chịu trách nhiệm trực tiếp trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ thích ứng với BĐKH, phòng, chống sụt lún, sạt lở, ngập úng, hạn hán và xâm nhập mặn thuộc phạm vi quản lý. Đưa nội dung thích ứng với BĐKH, phòng, chống sụt lún, sạt lở, ngập úng, hạn hán, xâm nhập mặn trở thành nhiệm vụ thường xuyên.
Tôn trọng quy luật tự nhiên, chuyển từ tư duy “ứng phó bị động” sang “chủ động quản trị rủi ro, thích ứng linh hoạt, phát triển thuận thiên”. Lấy phòng ngừa là chính, kết hợp chặt chẽ giữa giải pháp công trình và phi công trình, giữa phòng ngừa, ứng phó và phục hồi, góp phần nâng cao năng lực chống chịu trước tác động của BĐKH và các hiện tượng thiên tai cực đoan.
Khuyến khích áp dụng các giải pháp dựa vào thiên nhiên, phục hồi hệ sinh thái, bảo vệ rừng ngập mặn, hành lang sông, kênh, rạch; hạn chế các hoạt động làm gia tăng nguy cơ sụt lún, sạt lở.
UBND tỉnh Vĩnh Long yêu cầu rà soát, cập nhật các nội dung về sụt lún, sạt lở bờ sông, bờ biển, ngập úng, hạn hán, xâm nhập mặn và thích ứng với BĐKH vào các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; bảo đảm thống nhất với quy hoạch quốc gia, quy hoạch vùng ĐBSCL.
Xây dựng, cập nhật bản đồ phân vùng rủi ro thiên tai, bản đồ khu vực có nguy cơ sụt lún, sạt lở, ngập úng, hạn hán, xâm nhập mặn trên địa bàn tỉnh làm cơ sở quản lý quy hoạch, đầu tư xây dựng, bố trí dân cư và phát triển kinh tế - xã hội.
Chuyển đổi cơ cấu sản xuất thích ứng với BĐKH. Khuyến khích phát triển các mô hình sản xuất nông nghiệp sinh thái, tuần hoàn, hữu cơ, phát thải thấp; mở rộng các mô hình sử dụng giống cây trồng, vật nuôi có khả năng chịu hạn, chịu mặn và sử dụng nước tiết kiệm…
Đánh giá, xác định các công trình xuống cấp, không còn phù hợp hoặc phát sinh ảnh hưởng tiêu cực, kịp thời có phương án xử lý. Ưu tiên các giải pháp công trình kết hợp giải pháp dựa vào thiên nhiên. Ưu tiên bố trí vốn đầu tư công cho các công trình khẩn cấp, cấp bách, công trình bảo vệ khu dân cư, hạ tầng trọng yếu và các khu vực có nguy cơ cao xảy ra thiên tai…
Sở NN&MT được giao theo dõi chặt chẽ diễn biến nguồn nước, triều cường, tình hình thiên tai, kịp thời thông tin, tham mưu các biện pháp phòng chống, ứng phó. Tham mưu đề xuất, kiến nghị Trung ương xem xét hỗ trợ, đẩy nhanh tiến độ đầu tư xây dựng các dự án, công trình về sụt lún, sạt lở, ngập úng, hạn hán, xâm nhập mặn, giảm thiểu tác động thiên tai trên địa bàn tỉnh.