Tài năng và bản sắc có thể làm nên những giá trị kinh tế to lớn khi gặp sự đón nhận của công chúng và một môi trường đầu tư thuận lợi.
Trong năm 2026, thị trường điện ảnh Việt tiếp tục ghi nhận những bộ phim doanh thu hàng trăm tỷ đồng. Dữ liệu Box Office Vietnam cho thấy Trại buôn người đạt hơn 480 tỷ đồng, Thỏ ơi thu gần 450 tỷ đồng. Trước đó, năm 2025 Mưa đỏ của NSƯT đạo diễn Đặng Thái Huyền làm nên lịch sử với doanh thu 714 tỷ đồng.
Ở lĩnh vực công nghiệp biểu diễn, cú nổ Big Bang khiến truyền thông Hàn Quốc và khu vực trầm trồ. Hai đêm Big Bang World Tour ngày 24 và 25/10 tại sân vận động quốc gia Mỹ Đình thu hút khoảng 90.000 lượt khán giả trong nước và quốc tế.
Sự kiện cho thấy sức hấp dẫn của Việt Nam đối với các chương trình biểu diễn quốc tế, đồng thời đặt ra yêu cầu về năng lực tổ chức và phục vụ công chúng.
Trước đó, trong hai ngày 17 và 18/10 tại TPHCM, các đêm concert Tinh hà say hi và Anh trai vượt ngàn chông gai có quy mô khoảng 35.000-40.000 người mỗi đêm. Những chương trình do nghệ sĩ, ê-kíp Việt thực hiện đã tạo được cộng đồng khán giả sẵn sàng mua vé và đồng hành qua nhiều đêm diễn. Riêng 1 đêm, 4 concert tại TPHCM hút gần 100.000 lượt người.
Những con số từ công nghiệp văn hóa cho thấy công chúng sẵn sàng dành thời gian, tiền bạc cho trải nghiệm văn hóa. Sự đón nhận ấy cần được tiếp nối bằng chất lượng tác phẩm và khả năng tổ chức hoạt động lâu dài.
Trao đổi với PV Tiền Phong, PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, nhận định: “Thành công của một bộ phim hay một chương trình âm nhạc cho thấy sức sáng tạo và khả năng đón nhận của công chúng. Để thành công ấy được lặp lại, chúng ta cần năng lực tổ chức một chuỗi giá trị”.
Tham gia đồng tổ chức Big Bang World Tour tại Hà Nội, VPBank đảm nhận nhiều công việc vượt ra ngoài việc đóng góp kinh phí. Bà Nguyễn Thùy Dương, Giám đốc Khối Truyền thông và Tiếp thị VPBank, chia sẻ: “Bài toán lúc này lớn hơn rất nhiều, từ kết nối đối tác quốc tế, vận hành sự kiện quy mô sân vận động đến phối hợp với hàng loạt nhà cung cấp trong nước”.
Từ phía cơ quan quản lý nhà nước, lãnh đạo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội đề nghị xây dựng lịch sự kiện văn hóa lớn mang tính thường niên. “Điều đó giúp doanh nghiệp chủ động chuẩn bị sản phẩm, đồng thời tạo sức hút ổn định đối với du khách trong nước và quốc tế”, bà Lê Thị Ánh Mai, Phó Giám đốc Sở VHTTDL Hà Nội nói. Lịch hoạt động được chuẩn bị sớm cũng giúp các đơn vị sáng tạo có thời gian đầu tư cho tác phẩm và tìm đối tác.
PGS.TS Nguyễn Thị Thu Phương, Viện trưởng Viện Văn hóa, Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam, lưu ý: “Doanh thu và số lượng sự kiện là những chỉ số cần thiết, nhưng chưa đủ”. Theo bà, cần nhìn vào giá trị gia tăng, năng suất, số doanh nghiệp sáng tạo, số việc làm và chất lượng việc làm để nhận diện sức phát triển thực chất của công nghiệp văn hóa.
Sức mua của công chúng cần gặp được môi trường thuận lợi cho sáng tạo và đầu tư. “Cơ chế không phù hợp có thể khiến nguồn lực bị ách tắc. Cơ chế đã mở mà bộ máy vẫn xử lý theo thói quen cũ thì cơ hội cũng không đến được với người dân, nghệ sĩ và doanh nghiệp”, PGS.TS Bùi Hoài Sơn nhận định.
Ngày 7/1/2026, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam, xác định văn hóa, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh, động lực, trụ cột và hệ điều tiết cho phát triển bền vững. Mục tiêu công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP vào năm 2030 đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực tạo giá trị. Đi cùng mục tiêu kinh tế là nhiệm vụ xây dựng con người, bảo tồn di sản, phát triển nghệ thuật và bảo đảm quyền sáng tạo, thụ hưởng.
Nhìn từ sự kế thừa tư duy của Đảng về văn hóa, PGS.TS Bùi Hoài Sơn nhấn mạnh: “Bước tiến lần này là yêu cầu đưa sức mạnh ấy thấm sâu hơn vào cách lựa chọn mô hình phát triển, phân bổ nguồn lực và tổ chức thực hiện. Văn hóa phải hiện diện ngay trong quá trình hình thành quyết sách, chứ không chỉ được nhắc đến khi bàn về lễ hội, di tích hay hoạt động nghệ thuật”.
Đặt văn hóa vào quyết sách phát triển cũng là đặt đời sống con người vào quá trình lựa chọn. Quy hoạch một khu công nghiệp cần tính tới nơi sinh hoạt văn hóa của người lao động. Phát triển du lịch ở một vùng di sản phải tính tới khả năng gìn giữ không gian sống và tập quán của cộng đồng. Trong mỗi trường hợp, nguồn lực được phân bổ ra sao sẽ cho thấy văn hóa có thực sự được coi trọng hay chưa.
“Một dự án có thể tạo doanh thu, nhưng nếu làm tổn thương di sản, phá vỡ cộng đồng thì phải xem xét lại chất lượng phát triển mà dự án đó mang đến”, PGS.TS Bùi Hoài Sơn lưu ý.
Từ góc nhìn doanh nghiệp sản xuất nội dung, ông Đinh Bá Thành, Chủ tịch sáng lập DatVietVAC, nhấn mạnh yêu cầu xây dựng năng lực nội sinh cho công nghiệp văn hóa Việt Nam. Chia sẻ với Tiền Phong, ông đề cập việc tự phát triển tài năng, tài sản trí tuệ và thị trường, từng bước đưa các giá trị sáng tạo Việt ra thế giới để “cạnh tranh bằng chính những giá trị do người Việt tạo ra”.
Theo PGS.TS Nguyễn Thị Thu Phương, một sản phẩm công nghiệp văn hóa còn phải mang trong nó “câu chuyện, ký ức, thẩm mỹ và hệ giá trị”.
“Để trở thành tư duy lãnh đạo, mỗi cấp ủy, chính quyền cần trả lời được những câu hỏi cụ thể: Địa phương có lợi thế văn hóa nào, người dân đang thiếu điều kiện thụ hưởng gì, ai chịu trách nhiệm giải quyết và nguồn lực ở đâu? Trong quy hoạch đô thị, phát triển khu công nghiệp hay chuyển đổi số đều phải tính đến không gian văn hóa, đời sống tinh thần và khả năng sáng tạo của con người”, PGS.TS Bùi Hoài Sơn đặt vấn đề.
Hà Nội là địa phương đầu tiên trong cả nước ban hành nghị quyết chuyên đề về công nghiệp văn hóa, sớm đưa lĩnh vực này vào những ưu tiên phát triển của Thủ đô. Bước đi ấy cho thấy vai trò của cấp ủy trong xác định hướng phát triển, tạo cơ sở để huy động nguồn lực và nuôi dưỡng sức sáng tạo văn hóa.
Thực hiện Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị, Ban Thường vụ Thành ủy ban hành Chương trình hành động số 08-CTr/TU ngày 17/3/2026; UBND thành phố cụ thể hóa bằng Kế hoạch số 128/KH-UBND ngày 30/3/2026. Từ hoàn thiện thể chế, phát triển con người đến bảo tồn di sản, xây dựng môi trường văn hóa sáng tạo, các nhiệm vụ đặt ra đòi hỏi sự phối hợp của cả hệ thống chính trị. Phát triển văn hóa trở thành công việc chung của từng cấp, từng ngành, thể hiện trong mỗi quyết sách và cách tổ chức thực hiện.
“Việc quán triệt nghị quyết chỉ thực sự có ý nghĩa khi làm thay đổi một quyết định đầu tư, tháo gỡ một vướng mắc cho sáng tạo hoặc mở thêm một cơ hội tiếp cận văn hóa cho người dân. Nhận thức của người đứng đầu cần được kiểm chứng bằng những lựa chọn như vậy”, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Bùi Hoài Sơn nhấn mạnh.
Sáng tạo cần thời gian, sự chuyên tâm và cơ hội thử nghiệm. Để gắn bó lâu dài với một dự án văn hóa, nghệ sĩ và doanh nghiệp cũng cần sự rõ ràng trong chính sách. “Chính sách có sức hấp dẫn đến đâu cũng khó phát huy tác dụng nếu doanh nghiệp không biết bắt đầu từ đâu hoặc không dự liệu được thời gian xử lý”, PGS.TS Bùi Hoài Sơn nói.
Bà Nguyễn Thùy Dương đề xuất: “Nhà nước tạo định hướng, môi trường và hạ tầng; doanh nghiệp mang nguồn lực, năng lực vận hành, khả năng kết nối quốc tế và tinh thần đầu tư dài hạn”. Sự rõ ràng về quyền lợi, nghĩa vụ và điều kiện tham gia sẽ tạo cơ sở cho những khoản đầu tư bền bỉ hơn.
Trong sự phân công ấy, nguồn lực công có vai trò riêng. PGS.TS Bùi Hoài Sơn đề nghị ngân sách cần tập trung vào những việc có ý nghĩa nền tảng và lợi ích công cộng: bảo vệ di sản có nguy cơ mai một, đào tạo tài năng, giáo dục nghệ thuật, phát triển dữ liệu dùng chung và bảo đảm dịch vụ văn hóa cho địa bàn khó khăn.
Việc huy động nguồn lực xã hội cần bổ sung năng lực cho văn hóa, đồng thời bảo đảm trách nhiệm của Nhà nước đối với lợi ích công cộng.
PGS.TS Nguyễn Thị Thu Phương đề xuất quan tâm đến “số lượng sản phẩm mới, tài sản trí tuệ, thương hiệu văn hóa, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, khả năng ứng dụng công nghệ”, cùng khả năng đưa sản phẩm ra thị trường.
Cách hỗ trợ cũng cần tôn trọng đặc thù của lao động nghệ thuật. Một tác phẩm thử nghiệm có thể chưa thành công về thị trường. Điều cần kiểm tra là quy trình lựa chọn, việc sử dụng vốn, chất lượng chuyên môn và kết quả học hỏi. Cơ chế đánh giá có căn cứ sẽ giúp những thử nghiệm có giá trị được nhìn nhận thỏa đáng.
“Trách nhiệm người đứng đầu cần gắn với quyền quyết định và điều kiện thực hiện. Phải phân biệt rõ vướng mắc khách quan, thử nghiệm có rủi ro đã được kiểm soát với tình trạng né tránh, đùn đẩy hoặc cố tình làm sai”, PGS.TS Bùi Hoài Sơn nêu.
Theo ông, cần bảo vệ người dám đề xuất, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung theo quy định, đồng thời xử lý nghiêm sự trì trệ do thiếu trách nhiệm. Việc trao quyền vì thế cần đi cùng nguồn lực, điều kiện thực hiện và sự giám sát phù hợp. Người được giao việc phải có khả năng quyết định trong phạm vi trách nhiệm của mình.
Với cộng đồng gìn giữ di sản, cơ hội cống hiến còn gắn với quyền tiếp tục thực hành văn hóa và truyền lại cho thế hệ sau. “Người dân phải được tham gia từ lúc hình thành phương án, có tiếng nói trong quản lý và được hưởng lợi minh bạch”, PGS.TS Bùi Hoài Sơn đề nghị.
Khi nói đến việc phát huy di sản, ông Bùi Hoài Sơn phân tích: “Di sản quý bởi nó giúp chúng ta hiểu mình là ai và gắn bó với nhau như thế nào. Khai thác hiệu quả phải làm cho những giá trị ấy được gìn giữ, được tiếp nối và có thêm sức sống”. Một dự án cần tạo điều kiện để người dân gắn bó với di sản, tiếp tục thực hành và gìn giữ những gì đã được trao truyền.
Đích đến của chính sách văn hóa có thể nhìn thấy từ những điều gần gũi: người làm nghề có nơi làm việc và giới thiệu tác phẩm. Trẻ em có cơ hội học nghệ thuật. Người lao động tìm được một không gian sinh hoạt sau giờ làm. Những thay đổi ấy cần được tính đến ngay khi quyết định đầu tư, cùng với kinh phí và phương án duy trì hoạt động.
“Trước khi xây thêm một công trình, phải biết ai quản lý, kinh phí hoạt động hằng năm ở đâu, chương trình nào thu hút công chúng. Một thư viện hoạt động tốt, một nhà hát có lịch diễn thường xuyên có thể tạo giá trị xã hội lớn hơn một công trình hoành tráng nhưng thường xuyên đóng cửa. Hiệu quả cần được đánh giá suốt vòng đời đầu tư”, PGS.TS Bùi Hoài Sơn nói.
Theo ông, đóng góp vào GDP cho thấy một phương diện quan trọng của nguồn lực văn hóa. Đời sống thực tế cho biết nguồn lực đó đang phục vụ ai và tạo ra thay đổi gì. Trải nghiệm của người trực tiếp tham gia là căn cứ để điều chỉnh chính sách và lựa chọn ưu tiên đầu tư.
PGS.TS Nguyễn Thị Thu Phương đề nghị nhìn vào thời gian, chi tiêu người dân dành cho văn hóa; mức độ tiếp cận bảo tàng, thư viện, nhà hát, không gian sáng tạo và khoảng cách giữa các nhóm thu nhập, các địa bàn. Bà đặc biệt lưu ý “mức độ người dân không chỉ là khán giả mà còn tham gia sáng tạo”.
Đích đến mà bà nhấn mạnh là “một nền kinh tế sáng tạo mạnh hơn”, gắn với bản sắc được nhận diện rõ hơn và “một đời sống tinh thần phong phú hơn cho người dân”.
“Mỗi nhiệm vụ cần có sản phẩm đầu ra, thời hạn, kinh phí và cá nhân chịu trách nhiệm. Kiểm tra, giám sát cần đi vào những việc đang chậm: văn bản hướng dẫn đã ban hành chưa, thủ tục kéo dài ở đâu, thiết chế xây xong có hoạt động không, người dân có sử dụng được không?”, ông Bùi Hoài Sơn đề nghị.
Công tác tuyên giáo và báo chí có vai trò nối chính sách với đời sống qua giải thích, đối thoại và lắng nghe. Tiếng nói của nghệ sĩ, doanh nghiệp, cộng đồng gìn giữ di sản cần được phản ánh để cơ quan có thẩm quyền hiểu thêm những khó khăn khi thực hiện. “Mỗi mô hình được giới thiệu cần làm rõ điều kiện thành công để nơi khác có thể học hỏi. Mỗi bất cập được nêu cần được theo dõi đến kết quả giải quyết”, PGS.TS Bùi Hoài Sơn đề nghị.
Phát triển đất nước từ sức mạnh văn hóa đòi hỏi sự bền bỉ trong nuôi dưỡng con người, gìn giữ bản sắc và tạo điều kiện cho sáng tạo. Giá trị của mỗi quyết sách sẽ được cảm nhận khi người dân có thêm cơ hội tham gia và thấy đời sống của mình được cải thiện.
Khi người dân sống được bằng nghề, tự hào về di sản và muốn truyền lại cho con cháu, bảo tồn sẽ có nền tảng bền vững. Sức mạnh mềm cũng bắt đầu từ sức sống chân thực ấy.
Sau cùng, thước đo của phát triển văn hóa không chỉ nằm ở những kỷ lục doanh thu, số lượng sự kiện hay quy mô đầu tư. Quan trọng hơn là người sáng tạo có thêm cơ hội phát triển, di sản được gìn giữ và tiếp nối, người dân được tiếp cận những giá trị văn hóa tốt đẹp, đời sống tinh thần ngày càng phong phú.
Những chuyển biến ấy phải hiện diện trong từng gia đình, nhà trường, cộng đồng, chứ không chỉ trên các báo cáo thành tích.
Nghị quyết 80-NQ/TW đã xác lập vị thế mới của văn hóa trong chiến lược phát triển đất nước. Vấn đề đặt ra là trách nhiệm của từng cấp ủy, chính quyền trong cụ thể hóa chủ trương, phân bổ nguồn lực, tháo gỡ những rào cản và kiểm chứng hiệu quả thực hiện.
Bởi sức mạnh văn hóa của một quốc gia không chỉ được khẳng định qua những thành tựu nổi bật, mà trước hết phải được cảm nhận từ chất lượng đời sống, nhân cách và khát vọng vươn lên của mỗi con người Việt Nam.