Bệnh nhân là anh Trần Đức Hải (42 tuổi, trú tại Hà Đông, Hà Nội). Trong suốt ba năm, anh nhiều lần xuất hiện tình trạng hụt hơi khi leo cầu thang, hồi hộp, đánh trống ngực nhưng đều cho rằng nguyên nhân xuất phát từ áp lực công việc hoặc trào ngược dạ dày thực quản nên không đi khám chuyên sâu.
Thời gian gần đây, các triệu chứng ngày càng nghiêm trọng. Ban đêm, mỗi khi nằm nghỉ, anh thường xuyên xuất hiện những cơn tim đập nhanh, dồn dập, kèm vã mồ hôi, khó thở và cảm giác nghẹt ngực kéo dài khiến cuộc sống bị ảnh hưởng đáng kể.
Khi đến Bệnh viện Đại học Y Dược, ĐHQGHN, cơ sở Linh Đàm thăm khám, kết quả đo Holter điện tâm đồ xác định bệnh nhân mắc rung nhĩ cơn và cuồng nhĩ cơn, đồng thời có bệnh nền đau thắt ngực và trào ngược dạ dày thực quản.
Theo các bác sĩ, với người bệnh còn trẻ, điều trị nội khoa bằng thuốc luôn được ưu tiên. Tuy nhiên, sau nhiều đợt điều trị theo phác đồ hiện đại, bệnh nhân không đáp ứng và cũng không dung nạp thuốc. Trước nguy cơ bệnh tiến triển nặng, ê-kíp điều trị quyết định thực hiện can thiệp triệt đốt bằng năng lượng sóng có tần số radio (RF) kết hợp hệ thống lập bản đồ điện học buồng tim 3D.
Công nghệ lập bản đồ điện học 3D giúp xử lý chính xác ổ loạn nhịp
Theo các chuyên gia tim mạch, trước đây việc điều trị các rối loạn nhịp tim chủ yếu dựa vào thuốc, can thiệp catheter dưới hướng dẫn của màn hình X-quang hai chiều hoặc phẫu thuật. Những phương pháp này có nhiều hạn chế khi bác sĩ phải định vị ổ loạn nhịp trên hình ảnh phẳng, nguy cơ bỏ sót tổn thương cao, đồng thời cả bệnh nhân và nhân viên y tế đều phải tiếp xúc với lượng tia X đáng kể trong thời gian dài.
Hệ thống lập bản đồ điện học 3D đã khắc phục phần lớn những hạn chế này. Công nghệ cho phép tái tạo hình ảnh giải phẫu ba chiều của buồng tim với độ chính xác cao, giúp xác định chính xác vị trí phát sinh các dòng điện bất thường gây loạn nhịp.
Nhờ hệ thống định vị bằng từ trường và điện trở, catheter được dẫn đường chính xác mà không cần phụ thuộc nhiều vào tia X, qua đó giảm đáng kể thời gian chiếu xạ. Đối với điều trị rung nhĩ, năng lượng RF được sử dụng để tạo các tổn thương vi thể bao quanh bốn tĩnh mạch phổi nhằm cô lập hoàn toàn nguồn phát xung điện bất thường. Đây là kỹ thuật can thiệp xâm lấn tối thiểu qua mạch máu vùng bẹn nên người bệnh ít đau, phục hồi nhanh sau thủ thuật.
TS.BS Vũ Văn Bạ, Phụ trách Khoa Nội Tim mạch và Can thiệp, cho biết nhờ hệ thống lập bản đồ điện học 3D, ê-kíp đã đưa catheter qua đường mạch máu vùng đùi đến tim, sử dụng năng lượng RF để tạo các tổn thương chính xác, cô lập hoàn toàn các đường dẫn truyền bất thường quanh bốn tĩnh mạch phổi.
Theo TS.BS Vũ Văn Bạ, thủ thuật giúp loại bỏ nguồn gốc gây rung nhĩ, đưa nhịp tim trở về nhịp xoang bình thường, đồng thời hạn chế tổn thương mô tim lành và phù hợp với xu hướng y học chính xác, cá thể hóa điều trị hiện nay.
Ca can thiệp kéo dài hơn hai giờ diễn ra thuận lợi. Ngay sau khi hoàn tất triệt đốt và cô lập các tĩnh mạch phổi, tình trạng loạn nhịp được kiểm soát hoàn toàn, nhịp tim của bệnh nhân trở lại ổn định. Sau điều trị, anh Hải phục hồi tốt và chấm dứt hành trình ba năm sống chung với những cơn rung nhĩ.
Rung nhĩ đang có xu hướng trẻ hóa
Từ trường hợp trên, TS.BS Vũ Văn Bạ cảnh báo rung nhĩ không còn là bệnh lý chỉ gặp ở người cao tuổi mà đang có xu hướng trẻ hóa. Áp lực công việc kéo dài, ít vận động, béo phì, lạm dụng rượu bia, các rối loạn chuyển hóa hoặc những bệnh lý nền như trào ngược dạ dày thực quản đều có thể góp phần làm tăng nguy cơ mắc bệnh.
Theo chuyên gia, rung nhĩ không chỉ gây hồi hộp hay khó chịu thoáng qua mà còn làm tăng khoảng 5 lần nguy cơ đột quỵ do hình thành cục máu đông trong buồng tim. Bệnh cũng có thể dẫn đến suy tim nếu không được điều trị kịp thời.
Đặc biệt, khi rung nhĩ kéo dài và chuyển sang giai đoạn mạn tính, cấu trúc cơ tim sẽ dần bị xơ hóa, làm giảm hiệu quả của các phương pháp can thiệp hiện đại, trong đó có triệt đốt bằng catheter.
Các bác sĩ khuyến cáo người dân không nên chủ quan khi xuất hiện các dấu hiệu như hồi hộp, đánh trống ngực, tức ngực, khó thở khi gắng sức hoặc mệt mỏi không rõ nguyên nhân. Việc thăm khám sớm giúp phát hiện rối loạn nhịp tim ngay từ giai đoạn đầu, nâng cao hiệu quả điều trị và giảm nguy cơ xảy ra các biến chứng nguy hiểm như đột quỵ hoặc suy tim.