Trường Hè, 2001 (Letní škola, 2001), tác phẩm điện ảnh dài đầu tay của đạo diễn trẻ gốc Việt Dužan Duong, được giới phê bình Cộng hòa Séc gọi là bộ phim đầu tiên thuộc dòng phim điện ảnh Séc-Việt.
Nỗi chông chênh
Nội dung phim lấy bối cảnh tại cộng đồng người Việt ở vùng biên Séc và Đức, gần thị trấn Cheb, vào thời điểm chuyển giao thiên niên kỷ. Kiên (Bùi Thế Dương) từ Việt Nam trở về Séc với cha mẹ và em trai sau mười năm xa cách, mang theo một bí mật đủ sức khuấy đảo cả mùa hè ấy.
Phim đi theo cấu trúc ba phần, mỗi phần lần lượt xoay quanh góc nhìn của ba thành viên trong nhà: người cha Dũng (Doãn Hoàng Anh) đang gặp khó khăn vì bị mất hàng hóa sau một cuộc kiểm tra, cậu em Tài (Tô Tiến Tài) mười tuổi hiếu động và học giỏi, Kiên với những rối ren riêng khi phải tìm cách hòa nhập vào cuộc sống mới tại đất nước xa lạ.
Đạo diễn Dužan Duong sinh năm 1991 ở Hà Nội, và lớn lên tại Cheb. Con đường đến với điện ảnh của anh không bắt đầu từ trường lớp mà từ những bước popping và hip-hop vào năm 2012, khi anh muốn tự ghi lại các bài tập nhảy của mình bằng máy quay. Tiền cát-xê từ vài lần đóng quảng cáo vũ công đã giúp anh mua chiếc máy ảnh đầu tiên. Năm 2014, anh vừa học kinh tế vừa nộp đơn vào khoa phim Học viện nghệ thuật biểu diễn Prague (AMU), nhưng chỉ sau một học kỳ thì bị đuổi.
Sự nghiệp của anh bắt đầu gây chú ý với phim tài liệu ngắn Mất gốc (2014), khai thác những xung đột nội tâm của thế hệ "trẻ em chuối" - những đứa trẻ lớn lên tại Séc với tâm thế "ngoài vàng, trong trắng".
Đến năm 2017, anh chuyển sang thể loại phim hư cấu với tác phẩm Bố Hải, một sự kết hợp khéo léo giữa trải nghiệm cá nhân và nghệ thuật để khắc họa những căng thẳng giữa các thế hệ. Bộ phim thành công tại các liên hoan phim quốc tế, và nhận được đề cử giải Sư tử Séc danh giá.
Trường Hè, 2001 được khơi nguồn từ chính những trải nghiệm của đạo diễn 9X thời thiếu niên tại vùng biên giới CH Séc - Đức vào thập niên 2000, nên đạo diễn mô tả bộ phim này bằng thuật ngữ ‘autofiction’ (tự hư cấu). Qua lăng kính của một người Việt thế hệ thứ hai lớn lên tại châu Âu, anh đã khéo léo đưa vào phim những chất liệu thô mộc về quan hệ trong gia đình lẫn xung đột thế hệ trong cộng đồng xa xứ.
Nhân vật người cha trong phim là tổng hòa của những ông bố Việt điển hình ở Trung Âu thời kỳ đó, nghiện rượu chè, bài bạc, giấu sự hy sinh thầm lặng và nỗi cô đơn của kẻ tha hương. Dužan cho biết bố ruột của anh từng là một người lính, mang nhiều ẩn ức mà ông chưa bao giờ được dạy cách nói ra, vì thế cũng gặp khó khăn trong việc giao tiếp với con mình.
Chất liệu cuộc sống của phim còn thể hiện qua phân cảnh cả nhà ngồi quây quần trong căn hộ nhỏ, tỉ mỉ ép logo nhãn hiệu lớn vào những bộ quần áo rẻ tiền để bán cho người Đức qua biên giới, chính là một lát cắt từ ký ức tuổi thơ của anh ở chợ người Việt Dragoun, Cheb.
Ký ức chưa ai gọi tên
Trường Hè, 2001 ra mắt thế giới tại Liên hoan phim quốc tế Karlovy Vary 2025 trong đại sảnh 1.200 chỗ với tràng pháo tay kéo dài, sau đó chiếu rộng khắp Séc với hơn 35.000 lượt khán giả mua vé chỉ trong năm 2025, một con số đáng kể ở một đất nước chỉ 10 triệu dân.
Cuối năm ngoái, phim được chọn làm phim khai mạc Liên hoan phim Châu Âu (EUFF) 2025 tại Việt Nam, suất chiếu cháy vé với hơn 300 khán giả lấp đầy cả hai tầng ghế tại Trung tâm chiếu phim quốc gia Hà Nội.
Bộ phim được giới phê bình và khán giả đón nhận khá tích cực. Bên trong cộng đồng người Việt tại Séc, phim cũng kéo theo những tranh luận, có người xúc động bật khóc tại rạp, cũng có người cho rằng phim nặng nề và dễ gây ra hiểu lầm đối với người không sinh sống tại nơi đây. Dù vậy, phần lớn đồng thuận rằng đây là lần đầu một cuộc đối thoại như thế được mở ra thẳng thắn, giữa người Việt với người Séc, và giữa chính các thế hệ trong cộng đồng với nhau.
Yếu tố hoài niệm trong Trường Hè, 2001 khiến tôi liên tưởng đến đạo diễn Việt kiều khác là Leon Lê với hai bộ phim Song Lang và Quán Kỳ Nam.
Chính tình yêu dành cho sự hoài niệm về một Việt Nam đã trôi xa trong ký ức đã thúc đẩy Leon Lê tạo nên bối cảnh Sài Gòn trong những năm 1980 nên thơ hiện lên trong cả Song Lang và Quán Kỳ Nam. Từng ngóc ngách của khu nhà tập thể, mỗi biển hiệu rực rỡ màu sắc đặc trưng của phong cách nghệ thuật quảng cáo thời bấy giờ, và thậm chí từng món đồ gia dụng đã bị lãng quên từ lâu xuất hiện trên màn ảnh khiến người xem, đặc biệt là thế hệ cũ, không khỏi cảm thấy hoài niệm khi xem phim của Leon Lê.
Tương tự, Trường Hè, 2001 cũng khắc họa một thế giới trong quá khứ qua những món đồ thân thuộc của những đứa trẻ lớn lên trong thời kỳ Y2K: những bộ quần áo nhái nhãn hiệu nổi tiếng, thẻ bài Pokemon, hay các món đồ chơi rẻ tiền được bày bán tại khu chợ vùng biên Séc-Đức của cộng đồng người Việt.
Âm nhạc cũng là mảnh ghép quan trọng trong việc khắc họa lại quá khứ. Bên cạnh phần nhạc nền của Jonatan Pastričák, phim đan xen những giai điệu rất Việt Nam thời 2000 như Đường đến đỉnh vinh quang, Thành phố buồn, Big Big World, rồi đột ngột chuyển sang rap underground do chính Bùi Thế Dương sáng tác và thể hiện dưới nghệ danh Solitude. Bộ phim phục dựng nguyên vẹn một khoảng đời mà rất nhiều gia đình Việt từng đi qua nhưng chưa bao giờ thấy trên màn ảnh.
Dù có những nét tương đồng, góc nhìn của hai nhà làm phim gần như trái ngược nhau. Một người làm phim để bảo tồn ký ức về một quê hương đã biến mất là Leon Lê. Người kia - Dužan Duong làm phim để công nhận một cuộc sống đã và đang diễn ra mà chưa ai gọi tên.
Đặt Quán Kỳ Nam cạnh Trường Hè, 2001, người Việt xa xứ có thêm hai cách nhìn về chính mình, một nhìn về phía sau, một nhìn quanh mình ngay hôm nay.
Trường Hè, 2001 công chiếu rộng rãi tại các rạp tại Việt Nam từ ngày 19/6, do Spring Auteurs phát hành trong khuôn khổ dự án Một Lít Phim. Giữa một mùa hè nóng đổ lửa, hãy trôi về một mùa hạ của 25 năm trước để khám phá cuộc sống của cộng đồng người Việt xa xứ tại Trung Âu - điều mà ta ít có cơ hội được chiêm ngưỡng trên màn ảnh bạc.