Từ những chiếc lồng cá đến cuộc sống khấm khá
Tháng 11, núi rừng Trung Sơn bước vào những ngày yên ả. Mặt hồ thủy điện trải rộng giữa những dãy núi trùng điệp, thỉnh thoảng gợn sóng theo nhịp mái chèo. Xa xa, từng cụm lồng cá nối nhau trên mặt nước, tạo thành những ô vuông nổi giữa mênh mông sông núi.
Trên những chiếc thuyền nhỏ, người dân thoăn thoắt di chuyển giữa các lồng nuôi, kiểm tra nguồn nước, cho cá ăn và chăm sóc đàn cá. Công việc tưởng chừng bình dị ấy đang mang lại nguồn thu đáng kể, giúp nhiều gia đình ở xã Trung Sơn cải thiện cuộc sống.
Ít ai nghĩ rằng, mặt nước mênh mông này từng gắn với cuộc sống nhiều khó khăn của người dân miền núi. Trước đây, phần lớn các gia đình chủ yếu dựa vào nương rẫy và đánh bắt cá tự nhiên trên sông Mã, cuộc sống phụ thuộc vào mùa vụ, sản lượng đánh bắt thất thường nên thu nhập cũng chẳng ổn định.
Khi lòng hồ thủy điện Trung Sơn hình thành, diện tích mặt nước rộng lớn mở ra một hướng phát triển kinh tế mới. Thay vì chỉ trông chờ vào những chuyến đánh bắt may rủi, người dân bắt đầu nghĩ đến việc nuôi cá ngay trên vùng nước quê hương.
Là một trong những hộ phát triển mô hình nuôi cá lồng với quy mô lớn tại địa phương, anh Ngô Văn Chiến (37 tuổi, trú bản Tà Bán) vẫn nhớ những ngày gia đình còn chật vật mưu sinh bằng nghề đánh bắt cá tự nhiên và làm nương rẫy. Công việc vất vả nhưng thu nhập lúc có lúc không, trong khi chi phí sinh hoạt và việc học hành của con cái ngày càng đặt ra nhiều áp lực.
Năm 2021, nhận thấy tiềm năng từ mặt nước lòng hồ thủy điện Trung Sơn, anh quyết định chuyển hướng sản xuất. Những chiếc lồng cá đầu tiên được đầu tư trong điều kiện kinh tế còn hạn hẹp. Với người chưa có nhiều kinh nghiệm, từ lựa chọn con giống, chăm sóc đến quản lý nguồn nước, phòng bệnh cho cá đều là những bài toán không dễ giải đối với anh Chiến.
“Những năm đầu, gia đình gặp không ít khó khăn do thiếu kinh nghiệm, trong khi vốn đầu tư tương đối lớn. Tuy nhiên, nhờ được chính quyền địa phương và các đơn vị chuyên môn hướng dẫn kỹ thuật, tôi dần nắm vững quy trình chăm sóc, phòng bệnh cho cá. Đến nay, nghề nuôi cá lồng đã trở thành nguồn thu nhập chính của gia đình”, anh Chiến chia sẻ.
Từ những lồng cá ban đầu, gia đình anh từng bước mở rộng quy mô. Hiện, gia đình anh Chiến có 12 lồng, nuôi các loại cá có giá trị kinh tế như cá lăng, cá trắm, cá rô phi và cá chép. Chủ lồng cá nói rằng, lợi thế lớn của nghề nuôi cá tại đây là nguồn nước lòng hồ trong, lưu thông tốt, tạo điều kiện thuận lợi cho cá sinh trưởng.
Tuy nhiên, để đạt hiệu quả, người nuôi phải nắm vững kỹ thuật, chủ động chăm sóc và phòng bệnh, không thể chỉ thả cá rồi chờ đến ngày thu hoạch. Cùng với việc nâng cao kỹ thuật, đầu ra sản phẩm cũng dần được hình thành. Khi cá đạt trọng lượng thương phẩm, thương lái tìm đến tận nơi thu mua, giúp người dân thuận lợi hơn trong tiêu thụ.
“Mỗi năm, gia đình xuất bán hàng chục tấn cá. Sau khi trừ chi phí, thu nhập đạt khoảng 120-150 triệu đồng. So với những ngày chỉ trông chờ vào nương rẫy và đánh bắt tự nhiên, đây là bước chuyển đáng kể, giúp gia đình ổn định cuộc sống, có điều kiện chăm lo việc học hành của con cái”, anh Chiến tâm sự.
Cũng ở bản Tà Bán, anh Đinh Công Chức là một trong những người sớm nhận ra cơ hội làm ăn từ mặt nước lòng hồ. Từng chủ yếu dựa vào đánh bắt cá tự nhiên, anh mạnh dạn đầu tư những lồng nuôi đầu tiên để chuyển đổi sinh kế.
Sau thời gian tích lũy kinh nghiệm và nhận thấy hiệu quả kinh tế, gia đình anh tiếp tục mở rộng quy mô. Đến nay, anh Chức có 6 lồng, kết hợp nuôi cá truyền thống và một số loại cá đặc sản.
Không chỉ đầu tư lồng nuôi, anh còn chú trọng tìm hiểu kỹ thuật chăm sóc, lựa chọn con giống phù hợp với điều kiện nguồn nước và theo dõi quá trình sinh trưởng của đàn cá. Nhờ đó, mô hình duy trì sản lượng tương đối ổn định, mang lại nguồn thu khoảng 100 triệu đồng mỗi năm.
Điều đáng nói, khi đã có kinh nghiệm, anh Chức còn hướng dẫn nhiều hộ dân trong bản cùng tìm hiểu, đầu tư nuôi cá lồng. Những kinh nghiệm về lựa chọn giống, chăm sóc và phòng bệnh được chia sẻ từ chính thực tế sản xuất, giúp người mới bắt đầu giảm bớt những bỡ ngỡ.
Từ những hộ tiên phong như anh Chiến, anh Chức, nghề nuôi cá lồng đang dần lan tỏa ở khu vực lòng hồ. Người dân không còn chỉ trông chờ vào nguồn lợi thủy sản tự nhiên mà đã chủ động đầu tư, tính toán từng lứa cá, từng vụ thu hoạch để tạo nguồn thu cho gia đình.
Đánh thức tiềm năng lòng hồ
Theo người dân địa phương, điều kiện tự nhiên là một trong những lợi thế để Trung Sơn phát triển nghề nuôi cá lồng. Nguồn nước lòng hồ tương đối trong, lưu thông tốt, diện tích mặt nước rộng, tạo môi trường thuận lợi cho nhiều loại thủy sản sinh trưởng.
Tận dụng lợi thế đó, người dân đã từng bước đa dạng hóa đối tượng nuôi. Bên cạnh những giống cá truyền thống như cá trắm cỏ, cá chép, cá rô phi, một số hộ mạnh dạn thử nghiệm cá lăng đen, cá dầm xanh, cá nheo Mỹ và các loại cá đặc sản nhằm nâng cao giá trị kinh tế.
Phương thức nuôi cũng có nhiều thay đổi. Nếu trước đây, lồng cá chủ yếu được ghép từ tre, luồng với quy mô nhỏ thì nay nhiều hộ đã chuyển sang sử dụng khung sắt chắc chắn. Một số gia đình có điều kiện còn tiếp cận công nghệ lồng nhựa HDPE hiện đại, dù chi phí đầu tư lớn nên chưa được phổ biến rộng rãi.
Tuy nhiên, để nghề nuôi cá phát triển lâu dài, người dân vẫn phải đối mặt với không ít thách thức. Chi phí đầu tư lồng nuôi, con giống và thức ăn ban đầu tương đối lớn. Người nuôi phải thường xuyên theo dõi chất lượng nguồn nước, chủ động phòng ngừa dịch bệnh và lựa chọn mật độ thả nuôi phù hợp. Bên cạnh đó, việc tìm kiếm đầu ra ổn định, nâng cao chất lượng sản phẩm cũng là yếu tố quyết định hiệu quả kinh tế.
Ông Ngô Sĩ Tâm, Phó Bí thư Đảng ủy xã Trung Sơn, cho biết sau khi công trình thủy điện Trung Sơn hoàn thành, địa phương xác định phát triển nuôi cá lồng là một trong những hướng đi quan trọng nhằm chuyển đổi sinh kế cho người dân khu vực lòng hồ.
Sau nhiều năm triển khai Đề án phát triển nuôi cá lồng của tỉnh Thanh Hóa, mô hình này đang từng bước khẳng định sự phù hợp với điều kiện tự nhiên và nhu cầu phát triển kinh tế của địa phương. Theo mục tiêu đến năm 2030, xã Trung Sơn phấn đấu duy trì khoảng 190-200 ô lồng, nâng số hộ nuôi lên 65-70 hộ, sản lượng đạt 45-47 tấn mỗi năm.
Để hiện thực hóa mục tiêu, chính quyền xã phối hợp với các cơ quan chuyên môn tổ chức tập huấn, hướng dẫn người dân lựa chọn con giống, kỹ thuật chăm sóc, phòng chống dịch bệnh và kết nối tiêu thụ sản phẩm.
“Đến nay, nhiều hộ dân đã mạnh dạn đầu tư nuôi cá lồng và đạt hiệu quả kinh tế rõ rệt. Không ít gia đình đã vươn lên thoát nghèo, có nguồn thu ổn định hàng trăm triệu đồng mỗi năm. Đây là mô hình phù hợp với điều kiện tự nhiên của địa phương và sẽ tiếp tục được xã khuyến khích nhân rộng trong thời gian tới”, ông Tâm cho biết.
Theo lãnh đạo địa phương, để phát huy hiệu quả mô hình, việc mở rộng quy mô cần gắn với hướng dẫn kỹ thuật, kiểm soát môi trường nước, lựa chọn giống phù hợp và bảo đảm các điều kiện an toàn trong nuôi trồng thủy sản. Cùng với đó, tăng cường liên kết giữa các hộ nuôi, kết nối với thương lái và thị trường tiêu thụ sẽ góp phần nâng cao giá trị sản phẩm, giúp người dân yên tâm gắn bó lâu dài với nghề.