Trong bối cảnh chuyển đổi xanh trở thành xu thế chủ đạo của kinh tế toàn cầu, nông nghiệp không còn đơn thuần là ngành sản xuất lương thực, thực phẩm mà đứng trước yêu cầu đổi mới toàn diện về phương thức sản xuất, công nghệ và tổ chức thị trường.
Với lợi thế về đất đai, rừng, biển và hệ sinh thái đa dạng, Quảng Trị có cơ hội tái định vị nông nghiệp theo hướng hiện đại, xanh, giá trị gia tăng cao: Từ sản xuất nguyên liệu sang chuỗi giá trị, từ tăng sản lượng sang nâng cao chất lượng.
Từ lợi thế nông nghiệp đến lợi thế cạnh tranh mới
Với không gian phát triển trải dài từ ven biển, đồng bằng đến miền núi và biên giới, Quảng Trị có điều kiện hình thành nhiều vùng nguyên liệu, từ cây trồng chủ lực, dược liệu đến lâm sản và thủy sản.
Song lợi thế tài nguyên chỉ là điểm khởi đầu: Sức cạnh tranh hôm nay phụ thuộc vào chất lượng, công nghệ, truy xuất nguồn gốc, năng lực chế biến và khả năng đáp ứng tiêu chuẩn thị trường hơn là diện tích hay sản lượng.
Định hướng này đã được thể chế hóa tại Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2025–2030 xác định nông nghiệp xanh là một trong bốn trụ cột phát triển, cùng năng lượng, logistics và du lịch.
Đồng thời, Nghị quyết 96/NQ-HĐND ngày 27/2/2026 đặt yêu cầu sản xuất xanh, sinh thái, thích ứng biến đổi khí hậu, định hướng các vùng lúa tập trung, tiết kiệm nước, giảm phát thải tại Lệ Thủy, Bố Trạch, Vĩnh Thủy, Gio Linh…
Với lúa hữu cơ, Quyết định 3014/QĐ-UBND ngày 10/12/2024 tỉnh Quảng Trị trước hợp nhất đã phê duyệt đề án phát triển gắn với chuỗi giá trị giai đoạn 2025–2030, đặt mục tiêu đạt 2.000 ha vào năm 2030 – nền tảng cần được nối tiếp trong không gian sản xuất mới.
Theo lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Môi trường, tổ chức vùng nguyên liệu phải đi cùng tổ chức lại người sản xuất: Một cánh đồng liền vùng nhưng mỗi hộ dùng giống, phân bón, lịch tưới khác nhau sẽ khó tạo ra lô hàng đồng nhất.
Hợp tác xã cần đủ năng lực điều phối; doanh nghiệp phải tham gia từ yêu cầu chất lượng đến hợp đồng thu mua, trong một hệ thống có tiêu chuẩn, quy trình và cơ chế chia sẻ lợi ích rõ ràng.
Vòng tuần hoàn từ trang trại đến chuỗi liên kết
Mô hình ấy đã hiện hữu ở những trang trại cụ thể. Tại Tiên Sơn, xã Nam Ba Đồn, trang trại của anh Đoàn Thanh Lâm vận hành bằng một vòng tuần hoàn: Phân chuồng ủ men vi sinh để bón cây ăn quả, rau màu; phụ phẩm trồng trọt làm thức ăn chăn nuôi.
Sau ba năm liên kết với Tập đoàn Quế Lâm, anh chia sẻ: “Nuôi lợn hữu cơ giúp tôi yên tâm hơn, ít dịch bệnh, đầu ra ổn định.” Doanh nghiệp hướng dẫn kỹ thuật và tiêu thụ sản phẩm, giúp người nuôi có cơ sở tính toán đầu tư.
Ở xã Vĩnh Thủy, thay đổi bắt đầu từ nỗi ám ảnh dịch bệnh. Ông Cao Xuân Linh, thôn Tiên Mỹ 1, từng thiệt hại khi dịch tả lợn châu Phi quét qua. Ông xây chuồng theo quy trình mới: Từng ô riêng, đệm lót sinh học, lưới vây kín; ba con lợn hậu bị nhập cuối năm 2025 đã sinh sản lứa đầu vào tháng 7/2026.
Đến tháng 9/2026, đã có 29/78 xã, phường ký biên bản hợp tác với Quế Lâm; chín địa phương triển khai với 65 hộ. Tuy vậy, báo cáo của tỉnh cũng chỉ ra sản xuất còn phân tán, thị trường chưa ổn định, tỷ lệ người được đào tạo chuyển sang thực hành chưa cao. Khoảng cách từ một mô hình tốt đến một vùng sản xuất lớn vẫn cần được lấp đầy.
Khoa học, công nghệ - động lực nâng tầm giá trị sản phẩm
Một trong những hướng đi quan trọng là đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ vào toàn bộ quá trình sản xuất nông nghiệp. Công nghệ cao không chỉ là nhà kính hay tưới tự động, mà gồm cả giống, dinh dưỡng, kiểm soát dịch bệnh, cơ giới hóa, bảo quản và dữ liệu vùng trồng.
Theo báo cáo tại hội nghị chuyên đề ngày 28/7/2026, toàn tỉnh có gần 1.500 ha cây trồng được chứng nhận hữu cơ, hơn 20.700 ha sản xuất theo chuỗi liên kết; thiết bị bay không người lái được ứng dụng trên hơn 22.000 ha lúa; IoT có mặt ở 270 trang trại chăn nuôi và gần 200 ha nuôi tôm; hơn 200 cơ sở truy xuất bằng mã QR.
Những con số cho thấy công nghệ đang đi vào đồng ruộng, đồng thời đặt ra yêu cầu quản lý chất lượng ở quy mô lớn hơn. Song vùng nguyên liệu phân tán, liên kết thiếu bền vững và ít doanh nghiệp đầu tư chế biến sâu vẫn là hạn chế được chỉ rõ.
Vì vậy, chọn công nghệ phải xuất phát từ lợi thế từng vùng và nhu cầu thị trường, tránh dàn trải hoặc chạy theo mô hình tốn kém nhưng thiếu đầu ra. Dược liệu, chẳng hạn, cần gắn với đơn vị chế biến thay vì mở rộng diện tích trước rồi tìm người mua sau.
Quan trọng hơn, công nghệ cần gắn với chế biến sâu để nông sản không phụ thuộc vào tiêu thụ nguyên liệu thô. Trong hợp tác hữu cơ, tuần hoàn giai đoạn 2026–2030, tỉnh và các đối tác chú trọng các chuỗi vú sữa tím, cây có múi, thanh long ruột đỏ, với nội dung hợp tác gồm công nghệ sinh học, công nghệ số và đào tạo người sản xuất.
Giữ rừng, giảm phát thải để tạo thêm giá trị
Khi nhiều thị trường và chuỗi cung ứng quan tâm đến phát thải khí nhà kính, kinh tế carbon mở ra hướng đi mới cho nông, lâm nghiệp bền vững. Trong lâm nghiệp, Quảng Trị định hướng phát triển rừng gỗ lớn, thu hút chế biến lâm sản công nghệ cao và đến năm 2030 hình thành hai khu nông nghiệp, lâm nghiệp ứng dụng công nghệ cao cấp tỉnh. Phụ phẩm cũng cần được xem là nguyên liệu cho kinh tế tuần hoàn thay vì thải bỏ.
Giá trị giảm phát thải đã bước đầu trở thành nguồn lực thực tế: Giai đoạn 2023–2025, Quảng Trị sau hợp nhất được phân bổ hơn 364 tỷ đồng từ Thỏa thuận chi trả giảm phát thải vùng Bắc Trung Bộ, hơn 347 tỷ đồng đã giải ngân cho cộng đồng, hộ gia đình và cá nhân bảo vệ rừng.
Tuy nhiên, không phải diện tích rừng nào cũng lập tức tạo ra tín chỉ carbon thương mại; dự án phải đáp ứng yêu cầu về phương pháp tính toán, tính bổ sung, quyền đối với kết quả giảm phát thải và đo đạc – báo cáo – thẩm tra.
Vì thế, tỉnh tiếp cận thận trọng, dựa trên dữ liệu: Xây dựng cơ sở dữ liệu trữ lượng carbon rừng, thí điểm tham gia thị trường tín chỉ, phát triển dược liệu dưới tán rừng để gắn sinh kế với bảo vệ hệ sinh thái.
Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Trần Quốc Tuấn nhấn mạnh, sản xuất giảm phát thải phải đi cùng đo đếm, kiểm chứng, truy xuất và liên kết tiêu thụ; khi đó giá trị xanh mới trở về được với người trực tiếp giữ rừng, chăm cây và làm ruộng.
Hình thành hệ sinh thái nông nghiệp xanh
Để chuyển hóa tiềm năng thành kết quả thực chất, Quảng Trị cần những nhà đầu tư kết hợp vốn, công nghệ, thị trường và năng lực quản trị, phát triển đồng bộ từ giống, vùng nguyên liệu, chế biến, kho lạnh đến logistics và phân phối, cùng các mô hình hợp tác công – tư, liên kết doanh nghiệp – hợp tác xã – nông dân.
Doanh nghiệp đã bắt đầu đồng hành: Ông Hồ Xuân Hiếu, Chủ tịch HĐQT Công ty CP Tổng Công ty Thương mại Quảng Trị, nêu ba việc trọng tâm là đầu tư hạ tầng sản xuất sinh học, thay đổi nhận thức người dân và mở rộng thị trường; ông Nguyễn Hồng Lam, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Quế Lâm, khẳng định đồng hành cùng nông dân xây dựng chuỗi giá trị hữu cơ khép kín từ đất, nước đến sản phẩm cuối cùng.
Chuyển đổi nông nghiệp không diễn ra trong một sớm một chiều. Đó là hành trình đòi hỏi quy hoạch phù hợp, đầu tư có trọng tâm và liên kết chặt chẽ giữa Nhà nước, doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân.
Quảng Trị không chỉ hướng tới sản xuất nhiều hơn, mà phải tạo ra giá trị cao hơn từ mỗi vùng đất, mỗi sản phẩm và mỗi chuỗi liên kết – từ một vòng tuần hoàn nơi trang trại đến những vùng sản xuất lớn, nơi tăng trưởng kinh tế song hành với bảo vệ môi trường, nâng cao đời sống người dân và tạo dựng lợi thế cạnh tranh bền vững.