Phấn đấu tới năm 2030, mỗi người đọc 7-8 cuốn sách/năm

TPO - Kế hoạch thực hiện Chỉ thị số 04-CT/TW ngày 17/3/2026 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động xuất bản trong tình hình mới nêu rõ, phấn đấu đến năm 2030, mức đọc bình quân đạt 7-8 bản/người/năm, tiệm cận mức phổ biến của các nước có trình độ phát triển tương tự trong khu vực.

Đến năm 2030, có tập đoàn xuất bản - truyền thông chủ lực

Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà đã ký Quyết định số 1062/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch thực hiện Chỉ thị số 04-CT/TW ngày 17/3/2026 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động xuất bản trong tình hình mới.

Mục tiêu tổng quát của kế hoạch nhằm bảo đảm hoạt động xuất bản giữ vững và phát huy vai trò là lĩnh vực tư tưởng - văn hóa quan trọng của Đảng, Nhà nước và Nhân dân; bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; tuyên truyền chính sách, pháp luật của Nhà nước; xây dựng, bồi đắp nền tảng tri thức quốc gia; góp phần xây dựng văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững đất nước.

quocnam-z62-2921.jpg
quocnam-z62-2671.jpg
Không gian Nhà sách Tiền Phong ở Hải Phòng. Ảnh: Quốc Nam.

Mục tiêu cụ thể, đến năm 2030, kế hoạch đề cập việc hoàn thiện Luật Xuất bản và hệ thống pháp luật về xuất bản, xây dựng cơ chế, chính sách vượt trội về đầu tư, tài chính, thuế, đất đai, khoa học - công nghệ và chuyển đổi số.

Phấn đấu đến năm 2030, cơ bản hoàn thiện thể chế phát triển hoạt động xuất bản, năng lực xuất bản đạt bình quân 6-6,5 bản/người/năm và hình thành ít nhất từ một đến hai tập đoàn xuất bản - truyền thông chủ lực.

Bản kế hoạch cũng vạch ra tầm nhìn đến năm 2030, cơ bản hoàn thành cơ sở dữ liệu ngành xuất bản, 100% nhà xuất bản tham gia xuất bản điện tử và ứng dụng chuyển đổi số trong quy trình xuất bản; xuất bản phẩm điện tử chiếm khoảng 13-15% tổng số đầu sách hằng năm.

"Phấn đấu đến năm 2030, mức đọc bình quân đạt 7-8 bản/người/năm, tiệm cận mức phổ biến của các nước có trình độ phát triển tương tự trong khu vực...

Phấn đấu đến năm 2030, mỗi năm có khoảng 150-200 đầu sách Việt Nam được dịch và phát hành ở nước ngoài; mở rộng thị trường xuất bản và bản quyền ra khoảng 20-30 quốc gia, vùng lãnh thổ; từng bước hình thành thị trường giao dịch bản quyền xuất bản phẩm Việt Nam có tổ chức, chuyên nghiệp", kế hoạch nêu.

Đến năm 2045, xây dựng ngành xuất bản Việt Nam là trung tâm sáng tạo hàng đầu

Tầm nhìn đến năm 2045, kế hoạch nêu rõ xây dựng ngành xuất bản Việt Nam trở thành ngành công nghiệp nội dung số hiện đại, có trình độ phát triển tiên tiến trong khu vực, có khả năng cạnh tranh và tham gia ngày càng sâu vào thị trường xuất bản quốc tế, là trung tâm sáng tạo, giao lưu, hợp tác hàng đầu với các nước có hoạt động xuất bản, truyền thông lớn ở khu vực Đông Nam Á và quốc tế.

Đồng thời, cần hình thành môi trường xuất bản lành mạnh, chuyên nghiệp, sáng tạo; hệ thống xuất bản, in, phát hành vận hành hiệu quả trên nền tảng công nghệ hiện đại; hoạt động quản lý nhà nước được số hóa, kết nối, liên thông, minh bạch và hiệu quả cao.

khong-gian-pho-sach17.jpg
khong-gian-pho-sach9.jpg
Tầm nhìn đến năm 2045, kế hoạch nêu rõ xây dựng ngành xuất bản Việt Nam trở thành ngành công nghiệp nội dung số hiện đại, có trình độ phát triển tiên tiến trong khu vực.

Để thực hiện được các mục tiêu nêu trên, kế hoạch đưa ra 10 nhiệm vụ, giải pháp để các bộ, ngành, cơ quan liên quan triển khai thực hiện. Trong đó, cần tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các cấp, các ngành, các chủ thể tham gia hoạt động xuất bản, hoàn thiện thể chế, chính sách pháp luật và tháo gỡ điểm nghẽn, tạo lập hành lang pháp lý đồng bộ cho phát triển hoạt động xuất bản.

Cùng với đó, kế hoạch nêu giải pháp đổi mới mô hình phát triển, đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện, nâng cao chất lượng nội dung xuất bản, phát triển văn hóa đọc, xây dựng xã hội học tập và học tập suốt đời.

Những nhiệm vụ còn lại được đề cập là phát triển nguồn nhân lực ngành xuất bản đáp ứng yêu cầu phát triển trong tình hình mới, tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, mở rộng hợp tác quốc tế và bảo đảm nguồn lực tài chính, cơ sở vật chất.