Chiều 10/9, Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Gia Túc chủ trì hội nghị làm việc với Hiệp hội Các nhà thầu Xây dựng Việt Nam và một số doanh nghiệp xây dựng. Tại hội nghị, các doanh nghiệp đã nêu nhiều vấn đề phát sinh từ thực tiễn thi công, đồng thời kiến nghị hoàn thiện cơ chế để doanh nghiệp xây dựng trong nước có thể lớn mạnh, làm chủ công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Đấu thầu, định mức còn nhiều bất cập
Ông Nguyễn Quốc Hiệp, Chủ tịch Hiệp hội Các nhà thầu Xây dựng Việt Nam, cho biết khoảng 95% nhà thầu Việt Nam là doanh nghiệp vừa và nhỏ. Với doanh nghiệp xây dựng, vốn điều lệ trên 100 tỷ đồng đã được xem là quy mô lớn. Vì vậy, quy mô gói thầu và hình thức đấu thầu đang là vấn đề cần được tháo gỡ.
Theo ông Hiệp, thực tế triển khai các dự án lớn cho thấy doanh nghiệp Việt Nam phải liên kết với nhau để đủ năng lực tham gia. Chẳng hạn, tại gói thầu nhà ga chính sân bay Long Thành, 8 nhà thầu Việt Nam phải liên doanh thành một tổ hợp cùng nhà thầu Thổ Nhĩ Kỳ để tham gia đấu thầu.
Tuy nhiên, theo ông Hiệp, pháp luật đấu thầu hiện chưa có quy định rõ về hình thức “tổ hợp nhà thầu”, cũng như cơ chế tổng thầu. Điều này dẫn tới vướng mắc khi triển khai, bởi doanh nghiệp không biết mô hình thực hiện gói thầu như thế nào để vừa đáp ứng yêu cầu kỹ thuật, tiến độ, vừa bảo đảm đúng quy định, không bị xem là “bán thầu”.
Tương tự, với các dự án cầu, đường cao tốc, nhà thầu chính thường phải huy động lực lượng từ các nhà thầu phụ, đội thi công và nhiều đơn vị chuyên môn khác. Tuy nhiên, hành lang pháp lý về vấn đề này vẫn chưa thực sự đầy đủ.
Một vấn đề khác được Hiệp hội Các nhà thầu Xây dựng Việt Nam đề cập là cơ chế chỉ định thầu. Trong bối cảnh nhiều dự án cấp bách, dự án đặc biệt được triển khai theo hình thức chỉ định thầu, tiêu chí để lựa chọn nhà thầu cần được quy định rõ ràng.
“Giao cho chủ đầu tư chỉ định thầu” mới chỉ là một câu trong cơ chế, trong khi tiêu chí lựa chọn nhà thầu như thế nào là vấn đề cần làm rõ, nhất là khi Việt Nam chưa có hệ thống đánh giá năng lực nhà thầu chuẩn hóa.
Ông Hiệp cho biết Hiệp hội đang phối hợp, xin ý kiến Bộ Xây dựng để triển khai thí điểm việc đánh giá năng lực nhà thầu Việt Nam. Theo ông, đây có thể là cơ sở quan trọng để lựa chọn nhà thầu phù hợp đối với các dự án lớn, thay vì chỉ dựa vào những tiêu chí mang tính hình thức.
Cùng với đấu thầu, vấn đề định mức, đơn giá cũng được đánh giá là “bài toán khó kinh niên” của ngành xây dựng.
Hiện các dự án vẫn áp dụng hệ thống định mức, đơn giá được xây dựng từ trước và có cập nhật, điều chỉnh, cùng với giá vật liệu do các địa phương công bố. Tuy nhiên, theo các nhà thầu, giá công bố tại nhiều địa phương chưa sát thực tế. Trong khi đó, công nghệ xây dựng thay đổi nhanh, xuất hiện nhiều công việc đặc thù nhưng chưa có định mức tương ứng.
Đặc biệt, với những dự án hạ tầng kéo dài qua nhiều địa phương, việc áp dụng giá vật liệu theo từng địa phương khiến quá trình lập và quản lý chi phí trở nên phức tạp.
Hiệp hội đề xuất sớm xây dựng hệ thống đơn giá tổng hợp, tương tự phương thức đang được một số nước phát triển áp dụng, thay cho việc phụ thuộc quá nhiều vào hệ thống đơn giá của từng công trình và từng địa phương.
Đây được xem là vấn đề cấp thiết khi Việt Nam chuẩn bị triển khai những dự án đặc biệt lớn như đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam hay các nhà máy điện hạt nhân. Hiệp hội đề nghị Bộ Xây dựng cho phép các nhà thầu tham gia đóng góp xây dựng hệ thống đơn giá mới, dựa trên kinh nghiệm thực tế.
Trong giai đoạn chuyển tiếp, Hiệp hội cũng đề nghị có giải pháp để các dự án đang triển khai không bị ảnh hưởng bởi những bất cập của hệ thống đơn giá hiện hành.
Bên cạnh đó, Hiệp hội kiến nghị Chính phủ cho phép Bộ Xây dựng nghiên cứu thay đổi công thức tính dự toán công trình, trong đó nâng mức chi phí quản lý chung và chỉ tiêu lợi nhuận định mức lên 18%, thay cho mức 13% hiện nay. Đồng thời, cần kiểm tra thường xuyên việc công bố giá vật liệu của các địa phương để bảo đảm sát với thị trường.
Tạo việc làm để doanh nghiệp lớn lên
Không chỉ vướng cơ chế đấu thầu và giá thành, các doanh nghiệp cũng cho rằng cần có chính sách để hình thành lực lượng nhà thầu Việt Nam đủ sức cạnh tranh trong nước và quốc tế. Ông Nguyễn Lê Bách, Tổng Giám đốc Tập đoàn Đèo Cả, nhấn mạnh mục tiêu cuối cùng không phải tạo cơ chế thuận lợi cho riêng một doanh nghiệp mà phải hình thành một thế hệ doanh nghiệp xây dựng Việt Nam đủ năng lực cạnh tranh quốc tế.
Theo ông Bách, Nhà nước cần tạo cơ chế và đặt ra tiêu chuẩn, còn doanh nghiệp phải tự đổi mới, đầu tư vào con người, công nghệ và chịu trách nhiệm về sản phẩm của mình.
Từ những công trình trong nước, doanh nghiệp Việt Nam cần hướng tới thị trường quốc tế, đảm nhận những công việc có hàm lượng kỹ thuật cao như hầm, cầu, metro, đường sắt. Qua đó, ngành xây dựng không chỉ tạo việc làm mà còn có thể tạo nguồn thu ngoại tệ và từng bước xây dựng thương hiệu xây dựng Việt Nam trên thị trường quốc tế.
“Đèo Cả không xin cơ chế để được ưu ái. Chúng tôi kiến nghị một cơ chế để doanh nghiệp có năng lực được giao việc, được cạnh tranh, được chịu trách nhiệm và được trưởng thành”, ông Bách nói.
Theo đại diện Đèo Cả, doanh nghiệp phải có công trình để “thực chiến” thì mới tích lũy được năng lực; có năng lực mới làm chủ công nghệ và khi làm chủ công nghệ mới có thể vươn ra thế giới.
Trong khi đó, đại diện Tổng Công ty Xây dựng số 1 (CC1) cho rằng bài toán nhân lực ngành xây dựng không thể giải quyết bằng một chính sách đơn lẻ.
Nếu chỉ điều chỉnh tiền lương mà không tăng nguồn cung lao động, chi phí toàn ngành sẽ tăng. Nếu chỉ đào tạo thêm nhân lực nhưng không đổi mới công nghệ, năng suất vẫn thấp. Còn nếu yêu cầu nhà thầu tự xoay xở mà thiếu cơ chế dữ liệu và chia sẻ rủi ro, hợp đồng sẽ khó bảo đảm tính bền vững.
CC1 đề xuất tiếp cận tổng thể với bốn yếu tố: giá nhân công phải đúng, nguồn nhân lực phải đủ, năng suất lao động phải cao và cơ chế hợp đồng phải đủ linh hoạt để hấp thụ biến động thực tế.
Doanh nghiệp này cho biết sẵn sàng tham gia cùng Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương và Hiệp hội Các nhà thầu Xây dựng Việt Nam trong xây dựng dữ liệu, thí điểm đào tạo, hoàn thiện cơ chế hợp đồng và nâng cao năng suất lao động.
Một điểm nghẽn khác được Tổng Công ty 319 nêu là nguồn vật liệu phục vụ các dự án hạ tầng. Doanh nghiệp kiến nghị Chính phủ, các bộ, ngành và địa phương xây dựng bản đồ số về nguồn vật liệu, thể hiện đầy đủ thông tin về trữ lượng, công suất còn lại của từng mỏ, nhu cầu vật liệu tại từng địa phương và theo từng giai đoạn của dự án.
Theo Tổng Công ty 319, dữ liệu này sẽ giúp cơ quan quản lý, chủ đầu tư, đơn vị tư vấn và nhà thầu chủ động kế hoạch khai thác, điều phối nguồn vật liệu, hạn chế tình trạng thiếu hoặc biến động giá vật liệu trong quá trình thi công.
Đối với các dự án không áp dụng cơ chế cấp mỏ đặc thù, doanh nghiệp đề nghị có hướng dẫn cụ thể về khai thác, kinh doanh mỏ vật liệu; công bố giá và chỉ số giá phù hợp với thị trường. Các địa phương cũng cần có cơ chế riêng đối với dự án trọng điểm quốc gia, trong đó kiểm soát việc phân bổ nguồn vật liệu, giá bán, vận chuyển và chỉ số giá khi cần thiết.
Với cơ chế cấp mỏ đặc thù, Tổng Công ty 319 đánh giá đây là giải pháp phù hợp và đề nghị mở rộng áp dụng cho các dự án hạ tầng giao thông trọng điểm quốc gia. Đồng thời, cần đơn giản hóa thủ tục, hồ sơ cấp mỏ, giao cho nhà thầu thi công quản lý, khai thác và chuyển mạnh sang cơ chế “tiền cấp, hậu kiểm”.
Các kiến nghị tại hội nghị cho thấy doanh nghiệp xây dựng không chỉ cần vốn hay công việc mà đang đứng trước yêu cầu thay đổi toàn diện về cơ chế hoạt động. Khi hàng loạt dự án hạ tầng lớn được triển khai, việc hoàn thiện luật đấu thầu, định mức - đơn giá, cơ chế hợp đồng, nguồn vật liệu và đào tạo nhân lực sẽ quyết định khả năng hấp thụ nguồn việc của doanh nghiệp Việt Nam.
Nếu những điểm nghẽn này được tháo gỡ, các nhà thầu trong nước có thêm cơ hội tích lũy kinh nghiệm, đầu tư công nghệ và nâng cao năng lực. Đây cũng là nền tảng để doanh nghiệp Việt Nam từ chỗ tham gia các dự án trong nước tiến tới đảm nhận những công trình phức tạp ở thị trường quốc tế.