Lãi suất huy động khó hạ nhiệt, điều gì sẽ xảy ra?

TPO - Dù cơ quan quản lý liên tục yêu cầu giảm lãi suất để hỗ trợ doanh nghiệp và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, mặt bằng lãi suất huy động trên thị trường vẫn neo ở mức cao và có dấu hiệu tăng trở lại. Chuyên gia cho rằng, việc duy trì lãi suất cao cũng tạo ra những tác động không mong muốn đối với nền kinh tế. Khi chi phí huy động vốn tăng lên, các ngân hàng khó có thể giảm mạnh lãi suất cho vay.

Bài toán khó trong điều hành

Ngân hàng Nhà nước liên tục phát đi thông điệp yêu cầu các tổ chức tín dụng giảm lãi suất cho vay nhằm hỗ trợ doanh nghiệp và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, đến cuối tháng 5 và đầu tháng 6, nhiều ngân hàng có xu hướng tăng lãi suất huy động trở lại. Hiện, mức lãi huy động niêm yết tại nhiều ngân hàng ở mức 7-8%/năm kỳ hạn 6-12 tháng. Thậm chí có ngân hàng đưa mức lãi suất lên hơn 10%/năm kỳ hạn 6 tháng khi người dân có số tiền gửi từ 5 tỷ đồng trở lên.

Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước, lãi suất qua đêm ngày 1/6 tăng mạnh lên 11%/năm, cao hơn 4% so với phiên cuối tuần trước. Các kỳ hạn 2 tuần và 1 tháng lãi suất cũng lần lượt tăng lên 7,5%/năm và 7,75%/năm, trong khi kỳ hạn 1 tuần giữ nguyên ở mức 7,4%/năm.

Lãi suất đầu vào tăng khiến mặt bằng lãi suất cho vay tăng theo. Theo khảo sát của PV Tiền Phong, lãi suất cho vay đầu tháng 6 của ngân hàng tuỳ từng mục đích vay có mức lãi suất khác nhau. Cụ thể, lãi suất vay thế chấp của Techcombank từ 5,99 - 12,99%/năm; ACB từ 6,9 - 12%/năm; TPBank 6,4 - 12,03%/năm; Sacombank 7,49 - 12%/năm; Bản Việt 8,49 - 14,8%/năm. Kỳ hạn lãi suất trên chỉ từ 3 -12 tháng tuỳ từng ngân hàng rồi thả nổi theo thị trường.

no-xau.jpg
Lãi suất huy động có xu hướng tăng trở lại.

Đáng chú ý trên thị trường tiền tệ, khi lãi suất huy động tăng, giá USD lại có xu hướng giảm. Hiện, giá USD quanh mức 26.088 - 26.398 đồng/USD.

Trao đổi với PV Tiền Phong, chuyên gia kinh tế Nguyễn Trí Hiếu phân tích, mặt bằng lãi suất hiện nay không chỉ phản ánh nhu cầu vốn của hệ thống ngân hàng mà còn có mối liên hệ chặt chẽ với diễn biến tỷ giá.

Ông Hiếu cho hay, trong lý thuyết kinh tế cũng như thực tiễn thị trường tài chính, lãi suất và tỷ giá luôn có sự tương tác qua lại. Khi lãi suất tăng, dòng vốn có xu hướng dịch chuyển vào các kênh tiền gửi và đầu tư bằng đồng nội tệ, qua đó góp phần nâng cao giá trị của đồng tiền trong nước. Ngược lại, khi lãi suất giảm, sức hấp dẫn của đồng nội tệ suy yếu, tạo áp lực lên tỷ giá.

Theo ông Hiếu, từ đầu năm đến nay, giá USD có những giai đoạn biến động nhưng nhìn chung vẫn duy trì trạng thái tương đối ổn định. Đây là kết quả của nhiều yếu tố, trong đó có việc mặt bằng lãi suất vẫn được duy trì ở mức đủ hấp dẫn để hỗ trợ giá trị đồng Việt Nam. “Lãi suất ở mức cao đã góp phần giữ cho đồng Việt Nam ổn định so với các đồng tiền khác, đặc biệt là USD. Nhờ đó, tỷ giá từ đầu năm đến nay không có những biến động quá lớn”, ông Hiếu nhận định.

Tuy nhiên, vị chuyên gia cho rằng việc duy trì lãi suất cao cũng tạo ra những tác động không mong muốn đối với nền kinh tế. Khi chi phí huy động vốn tăng lên, các ngân hàng khó có thể giảm mạnh lãi suất cho vay. Điều này đồng nghĩa với việc doanh nghiệp tiếp tục phải đối mặt với gánh nặng chi phí tài chính trong bối cảnh sức cầu của thị trường vẫn chưa thực sự phục hồi mạnh mẽ.

Theo ông Hiếu, đây chính là bài toán khó đối với cơ quan điều hành. Một mặt cần duy trì sự ổn định của tỷ giá và kiểm soát lạm phát, mặt khác lại phải tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn với chi phí hợp lý. “Đó là con dao hai lưỡi. Giữ lãi suất đủ cao giúp ổn định tỷ giá nhưng đồng thời cũng làm gia tăng áp lực chi phí vốn cho doanh nghiệp”, ông Hiếu nói.

Khó kỳ vọng lãi suất giảm mạnh

Đánh giá về xu hướng lãi suất trong những tháng cuối năm, chuyên gia Nguyễn Trí Hiếu cho rằng, chưa có nhiều cơ sở để kỳ vọng mặt bằng lãi suất huy động sẽ giảm đáng kể. Theo ông, nguyên nhân quan trọng nhất xuất phát từ sự mất cân đối giữa tăng trưởng tín dụng và tốc độ huy động vốn. Trong khi nhu cầu vốn của nền kinh tế đang gia tăng thì nguồn vốn huy động từ dân cư và tổ chức kinh tế lại tăng chậm hơn.

h.jpg
Chuyên gia kinh tế Nguyễn Trí Hiếu (ảnh: Dương Triều).

“Tăng trưởng tín dụng hiện cao hơn tăng trưởng huy động. Nếu không thu hút được thêm nguồn vốn đầu vào, các ngân hàng sẽ thiếu nguồn lực để cho vay. Vì vậy, họ buộc phải duy trì hoặc nâng lãi suất huy động để cạnh tranh nguồn vốn”, ông Hiếu phân tích.

Khi Chính phủ đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức cao, nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh và đầu tư hạ tầng sẽ tiếp tục gia tăng. Điều đó khiến áp lực huy động vốn đối với hệ thống ngân hàng khó có thể giảm trong thời gian tới.

Không chỉ đối mặt với những thách thức trong nước, nền kinh tế Việt Nam còn chịu tác động từ nhiều yếu tố bất định của kinh tế thế giới. Theo ông Hiếu, các căng thẳng địa chính trị kéo dài tại Trung Đông, nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng cùng những biến động thương mại toàn cầu có thể tiếp tục đẩy giá dầu và giá hàng hóa tăng cao. Khi giá năng lượng tăng, chi phí sản xuất và vận tải trên toàn cầu cũng gia tăng, kéo theo áp lực lạm phát. Việt Nam với độ mở kinh tế lớn khó tránh khỏi những tác động lan tỏa từ xu hướng này.

Theo vị chuyên gia, 2026 sẽ là năm đầy thách thức đối với điều hành kinh tế. Nhiều khả năng cơ quan quản lý sẽ tiếp tục lựa chọn cách tiếp cận thận trọng, chấp nhận duy trì mặt bằng lãi suất ở mức tương đối cao nhằm bảo vệ giá trị đồng tiền, ổn định tỷ giá và kiểm soát lạm phát.