Lãi suất cho vay của ngân hàng nào cao nhất?

TPO - Hơn 20 ngân hàng đã công bố lãi suất cho vay bình quân tháng 8, trong đó nhiều nhà băng ghi nhận mức tăng so với tháng trước. Lãi suất cho vay bình quân tại một số ngân hàng đã vượt 10%/năm, trong khi chi phí huy động vốn tiếp tục chịu áp lực tăng.

Lãi suất cho vay bình quân vượt 10%/năm

Tính đến ngày 21/9, hơn 20 ngân hàng đã công bố lãi suất cho vay bình quân trong tháng 8. Cụ thể, VIB là ngân hàng ghi nhận mức tăng mạnh nhất trong nhóm đã công bố, với lãi suất cho vay bình quân tháng 8 ở mức 9,08%/năm, tăng 0,8% so với tháng trước. Chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động bình quân tại ngân hàng này ở mức 2,34%.

Techcombank công bố lãi suất cho vay bình quân tháng 8 lên tới 11,2%/năm, tăng 0,58% so với tháng trước.

Một loạt ngân hàng cũng ghi nhận lãi suất cho vay bình quân trên 10%/năm. OCB cho vay ở mức 10,94%/năm; BVBank 10,8%/năm; VietABank 10,76%/năm; VikkiBank 10,51%/năm; BaoVietBank 10,5%/năm; TPBank 10,47%/năm; HDBank 10,4%/năm; PVcomBank 10,25%/năm và LPBank 10,19%/năm.

Theo số liệu Ngân hàng Nhà nước công bố, lãi suất cho vay bình quân trong tháng 8 ở mức 10,7%/năm, tăng 0,2% so với tháng trước và cao hơn khoảng 3% so với lãi suất của các khoản vay được giải ngân cách đây một năm.

tp_3.jpg
Lãi suất cho vay bình quân các ngân hàng tăng so với tháng trước. Ảnh: Như Ý.

Đối với khoản vay mới và khoản vay cũ còn dư nợ, lãi suất cho vay bình quân của nhóm ngân hàng thương mại nhà nước và ngân hàng thương mại cổ phần nằm trong khoảng 8,4-10,7%/năm. Riêng lãi suất cho vay ngắn hạn đối với các lĩnh vực ưu tiên khoảng 4%/năm.

Diễn biến trên cho thấy mặt bằng lãi suất cho vay đang chịu sức ép tăng trở lại sau giai đoạn duy trì ở mức tương đối thấp. Đáng chú ý, áp lực không chỉ đến từ phía cầu tín dụng mà còn liên quan trực tiếp tới chi phí huy động vốn của các ngân hàng.

Chi phí huy động tạo áp lực lên lãi suất cho vay

Theo Ngân hàng Nhà nước, trong khi lãi suất cho vay bình quân tăng, mặt bằng lãi suất huy động cũng có xu hướng đi lên. Lãi suất tiền gửi cao nhất kỳ hạn 6-12 tháng đã lên 8%/năm, tăng 0,2% so với tháng trước. Với kỳ hạn trên 24 tháng, mức cao nhất lên tới 8,1%/năm, cũng tăng 0,2%/năm.

Trên thực tế, mức lãi suất dành cho khách hàng mới, khách hàng có số dư tiền gửi lớn hoặc tham gia các chương trình ưu đãi có thể cao hơn đáng kể so với biểu lãi suất niêm yết thông thường. Một số khoản tiền gửi lớn được áp dụng lãi suất thỏa thuận trên 9,7%/năm, thậm chí có trường hợp được chào gần 10%/năm, đi kèm điều kiện về quy mô tiền gửi và thời gian duy trì.

Theo nhóm phân tích của Công ty Chứng khoán SSI, khi lãi suất duy trì ở mức cao, các ngân hàng có xu hướng dịch chuyển cơ cấu tín dụng sang những khoản vay trung và dài hạn thay vì tập trung vào tín dụng ngắn hạn.

Điều này đặt ra bài toán cân đối giữa tăng trưởng tín dụng, chi phí vốn và khả năng hấp thụ vốn của doanh nghiệp. Khi chi phí huy động tăng, việc duy trì lãi suất cho vay thấp trong thời gian dài có thể làm thu hẹp biên lợi nhuận của ngân hàng, đồng thời khiến các tổ chức tín dụng phải thận trọng hơn trong việc lựa chọn khách hàng và định giá khoản vay.

Trao đổi với PV Tiền Phong, TS. Hoàng Đàm Lương Thúy - giảng viên Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội - cho rằng, một lần Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tăng lãi suất rồi dừng lại có thể chỉ tạo cú hích tâm lý và áp lực trong ngắn hạn. Thế nhưng, nếu Fed tiếp tục thắt chặt hoặc phát tín hiệu duy trì mặt bằng lãi suất cao trong thời gian dài, Việt Nam có thể đối diện môi trường vốn đắt đỏ kéo dài.

Theo bà Thúy, doanh nghiệp vay bằng đồng Việt Nam sẽ chịu tác động gián tiếp thông qua chi phí vốn cao hơn. Trong khi đó, doanh nghiệp vay USD có thể chịu tác động kép khi lãi suất USD tăng và nghĩa vụ trả nợ quy đổi sang Việt Nam đồng có thể tăng nếu tỷ giá biến động.

Bà Thúy cho rằng, không nên coi việc giảm lãi suất cho vay bằng mệnh lệnh là giải pháp. Nếu ngân hàng bị ép cho vay với lãi suất thấp trong khi chi phí huy động và rủi ro tín dụng tăng, chênh lệch lãi ròng sẽ bị thu hẹp, từ đó có thể dẫn tới xu hướng siết điều kiện cho vay.

"Khi ấy, doanh nghiệp có thể thấy lãi suất quảng cáo giảm nhưng lại khó vay hơn, đặc biệt là nhóm doanh nghiệp nhỏ, thiếu tài sản bảo đảm hoặc chưa minh bạch về dòng tiền", chuyên gia phân tích.

Theo bà Thúy, trong môi trường vốn đắt, tín dụng cần được phân bổ có chọn lọc, ưu tiên sản xuất, xuất khẩu, nông nghiệp, công nghiệp hỗ trợ, hạ tầng thiết yếu, chuyển đổi số và những doanh nghiệp có dòng tiền rõ ràng. Vốn tín dụng cũng cần được hạn chế chảy vào hoạt động đầu cơ tài sản, dự án yếu tính pháp lý hoặc các khoản vay đảo nợ không tạo ra giá trị mới.