GS.TS Trần Hồng Thái, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ chia sẻ với Tiền Phong câu chuyện thu hút nhân tài nhiều năm qua ở Viện, đồng thời chia sẻ giải pháp tháo gỡ điểm nghẽn để Việt Nam thực sự trở thành nơi hội tụ nhân tài.
Thưa Giáo sư, thời gian qua, Quốc hội, Chính phủ đã ban hành rất nhiều chính sách liên quan đến trọng dụng, sử dụng các nhà khoa học. Là một trong những cơ quan nghiên cứu lớn nhất cả nước, việc triển khai các chính sách này đã được Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ thực hiện như thế nào?
GS.TS Trần Hồng Thái: Cách tiếp cận của Viện những năm qua không dừng ở việc phổ biến, quán triệt các văn bản của Đảng và Nhà nước, mà là chủ động cụ thể hóa thành một hệ thống chính sách bao trùm toàn bộ chu trình phát triển nhân tài, từ phát hiện và bồi dưỡng từ sớm, đến thu hút, trọng dụng, sử dụng, rồi đãi ngộ và tôn vinh, để mỗi nhà khoa học, ở bất kỳ chặng đường nghề nghiệp nào, đều nhìn thấy một lộ trình phát triển rõ ràng và một cơ chế hỗ trợ tương ứng.
Hệ thống ấy được xây dựng trên nguyên tắc kết hợp hài hòa giữa khung chính sách chung của Nhà nước với những cơ chế đặc thù do chính Viện chủ động thiết kế nhằm phát huy tối đa năng lực của đội ngũ làm khoa học cơ bản và công nghệ mũi nhọn.
Để chủ trương ấy không dừng trên giấy, Viện Hàn lâm đã hình thành một số chương trình mang dấu ấn riêng, gắn liền với tên tuổi của Viện trong cộng đồng khoa học, mà tôi xin nêu vắn tắt.
Đó là Chương trình Hỗ trợ cán bộ khoa học trẻ được duy trì liên tục từ năm 2012, tạo sân chơi nghiên cứu đầu tiên và mang tính cạnh tranh cho các nhà khoa học mới vào nghề; là Chương trình thu hút các nhà khoa học trẻ tài năng triển khai từ năm 2021, hướng tới những cá nhân xuất sắc chưa thuộc biên chế nhưng có định hướng gắn bó lâu dài; là Chương trình hỗ trợ nghiên cứu viên cao cấp từ năm 2018, giúp các nhà khoa học đầu đàn dẫn dắt những hướng nghiên cứu mới và liên ngành; và là Chương trình phát triển nhóm nghiên cứu xuất sắc từ năm 2022, với yêu cầu công bố quốc tế ở mức rất cao, nhằm hình thành các tập thể khoa học mạnh đạt chuẩn quốc tế.
Song song với các chương trình chuyên môn, Viện cũng đặc biệt quan tâm đến điều kiện sống của cán bộ trẻ, mà Khu ươm tạo đưa vào sử dụng từ năm 2017, hỗ trợ chỗ ở với giá ưu đãi, là minh chứng cho việc chúng tôi nhìn nhận chính sách nhân tài một cách toàn diện, gắn công việc với cả đời sống của người làm khoa học.
Hằng năm, Tập đoàn Novatech trao học bổng cho các học viên cao học và nghiên cứu sinh có thành tích học tập và nghiên cứu xuất sắc tại Học viện Khoa học và Công nghệ, trực thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Ảnh: Viện HLKHCN Việt Nam cung cấp.
Điểm mới mà tôi muốn nhấn mạnh là ở giai đoạn hiện nay, Viện Hàn lâm chuyển mạnh từ tâm thế vận dụng các chính sách sẵn có sang chủ động đề xuất và đi đầu trong việc cụ thể hóa những cơ chế đột phá mà Nghị quyết số 57 và Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo đã mở đường, trong đó có cơ chế tiền lương, thu nhập tương xứng cho nhà khoa học đầu ngành, cơ chế khoán chi đến sản phẩm cuối cùng gắn với chấp nhận rủi ro và độ trễ vốn là bản chất của nghiên cứu, cùng quyền tự chủ thực chất cho tổ chức khoa học và cho người chủ trì nhiệm vụ.
Cùng với đó, chúng tôi xác định thu hút nhân tài phải có trọng tâm, trọng điểm, bám sát Danh mục công nghệ chiến lược quốc gia ban hành theo Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg, để nguồn lực con người được dồn đúng vào những lĩnh vực mà đất nước cần Viện Hàn lâm phải làm chủ, thay vì dàn trải. Tôi tin rằng đây chính là bước chuyển sẽ định hình diện mạo công tác nhân tài của Viện trong nhiệm kỳ tới.
Một chính sách dù hay đến đâu cũng chỉ có ý nghĩa khi giúp nhà khoa học nghiên cứu tốt hơn, cống hiến tốt hơn và tạo ra nhiều giá trị hơn cho đất nước.
Thưa Giáo sư, ông có thể chia sẻ con số thực tế các nhân tài khoa học công nghệ đã được thu hút về làm việc tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam theo các chính sách đãi ngộ, trọng dụng được ban hành thời gian qua?
Tôi nghĩ cách trung thực nhất để trả lời câu hỏi này là để các con số tự lên tiếng. Trước hết là quy mô đội ngũ làm nền cho mọi con số tiếp theo: tính đến năm 2025, trên tổng số 2.152 biên chế được giao, Viện Hàn lâm có 1.980 cán bộ, trong đó có 49 giáo sư, 171 phó giáo sư, 11 tiến sĩ khoa học và 897 tiến sĩ. Nhân lực khoa học và công nghệ chiếm trên 80% tổng nhân lực của Viện, và trong số đó, cán bộ có trình độ tiến sĩ, tiến sĩ khoa học chiếm trên 50%, một cơ cấu trình độ mà không nhiều cơ quan nghiên cứu trong nước có được.
Nhưng nếu câu hỏi của nhà báo là về những nhân tài thực sự đã được thu hút trở về Viện, thì tôi muốn dẫn ra một ví dụ mà chúng tôi rất tâm đắc, đó là Chương trình sau tiến sĩ tạo nguồn lực khoa học và công nghệ, một trong những chương trình sau tiến sĩ tiên phong ở Việt Nam, triển khai trong giai đoạn 2017 đến 2022.
Chương trình đã xét chọn và giao cho 116 tiến sĩ chủ trì 109 đề tài và 7 nhiệm vụ nghiên cứu, tạo ra 150 công trình công bố trên các tạp chí quốc tế thuộc danh mục SCI-E. Điều có ý nghĩa nhất với tôi nằm ở chỗ, trong số 116 tiến sĩ ấy có tới 83 người được đào tạo tại các trường đại học ở nước ngoài đã lựa chọn quay về Việt Nam làm việc, và 41 người trong số họ sau đó đã được tuyển dụng, gắn bó lâu dài tại các viện nghiên cứu chuyên ngành của Viện Hàn lâm, trong đó một tỷ lệ đáng kể là các nhà khoa học nữ.
Với tôi, đó mới là câu trả lời cụ thể nhất cho câu hỏi nhân tài có chịu trở về hay không, bởi mỗi con số ấy là một người đã có thể ở lại nước ngoài, nhưng đã quyết định quay về.
Cùng với kinh phí, các cơ chế trọng dụng theo quy định của Nhà nước cũng được Viện vận dụng đầy đủ. Trong giai đoạn 2020 đến 2024, đã có 332 cán bộ được bổ nhiệm đặc cách vào chức danh nghiên cứu khoa học và công nghệ hạng I và hạng II mà không phải qua thi thăng hạng, không phụ thuộc số năm công tác, trong đó 86 người ở hạng I và 246 người ở hạng II; đồng thời, trên 60 nhà khoa học có trình độ cao được kéo dài thời gian công tác để tiếp tục cống hiến và dìu dắt lớp kế cận.
Song điều đáng nói nhất, theo tôi, không nằm ở kinh phí hay số lượt hỗ trợ, mà ở vai trò thực sự của đội ngũ trẻ được nuôi dưỡng qua các chương trình ấy. Đến nay, lực lượng cán bộ nghiên cứu trẻ có trình độ tiến sĩ trở lên đã chiếm khoảng 25% tổng số cán bộ nghiên cứu có trình độ tiến sĩ của Viện.
Ở đây, tôi xin được phân biệt rạch ròi hai khái niệm để con số không bị hiểu lệch, đó là tuyển dụng đặc cách theo một quy trình hành chính cụ thể, và thu hút, trọng dụng nhân tài theo nghĩa rộng. Nếu chiếu theo hình thức tuyển dụng đặc cách nhân tài như quy định mới, thì số trường hợp phát sinh trong giai đoạn vừa qua trên thực tế gần như chưa có, và đây là một khó khăn chung mà tôi sẽ đề cập ở phần sau.
Nhưng nếu hiểu thu hút, trọng dụng theo đúng bản chất, là tạo ra môi trường, nguồn lực và cơ hội để người tài về với Viện, gắn bó và trưởng thành, thì phần lớn kết quả tôi vừa nêu chính là minh chứng, và chúng đến từ các chương trình do chính Viện thiết kế, kiên trì triển khai trong hơn một thập niên. Nhân tài không chỉ được thu hút bằng một quyết định tuyển dụng, mà được giữ lại và trưởng thành bằng cả một môi trường nghiên cứu và một hệ thống chính sách bền bỉ phía sau.
Từ một cơ sở nghiên cứu phải đối mặt thường xuyên với nguy cơ chảy máu chất xám, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam có kỳ vọng tạo ra một cú lội ngược dòng: trở thành điểm đến của các nhân tài khoa học?
Tôi xin trả lời thẳng là có, và tôi muốn nói ngay rằng đó không phải là một khẩu hiệu. Nhưng để cú lội ngược dòng ấy thành hiện thực, trước hết phải thay đổi chính cách chúng ta nhìn nhận bài toán nhân tài.
Lâu nay ta quen nói về chảy máu chất xám như một thế phòng thủ, như thể nhiệm vụ của một cơ quan khoa học là giữ cho được người ở lại. Tôi cho rằng tư duy ấy cần được lật ngược. Những nhà khoa học giỏi nhất, trước khi cân nhắc về thu nhập, thường tìm đến nơi có bài toán lớn xứng đáng với năng lực của mình và có quyền được tự do theo đuổi nó. Vì vậy, điều quyết định việc Viện có trở thành điểm đến hay không, trước hết không phải là chúng ta trả được bao nhiêu, mà là chúng ta giao cho họ được sứ mệnh gì.
Và đây chính là điều mà tôi tin Viện Hàn lâm đang có trong tay nhiều hơn bất kỳ giai đoạn nào trước đây, khi đất nước bước vào những cuộc đua mà ở đó khoa học gắn trực tiếp với vị thế và chủ quyền quốc gia. Trong cuộc đua công nghệ lượng tử và bán dẫn, nơi nhân lực trình độ cao khan hiếm trên toàn cầu và không một quốc gia nào có thể tự đào tạo kịp, lời giải buộc phải là biết quy tụ và thu hút.
Trong tiến trình chuyển đổi số quốc gia và số hóa công tác lãnh đạo, quản trị của Đảng và Nhà nước, Viện đang cần một lớp nhân lực mới về trí tuệ nhân tạo, khoa học dữ liệu và mô hình hóa phục vụ ra quyết định, đúng nhóm mà khu vực công nghệ tư nhân đang cạnh tranh gay gắt nhất.
Và trong khoa học, công nghệ biển, đặc biệt là biển sâu, Viện đang nắm giữ một sứ mệnh gần như đặc thù của quốc gia, nơi mỗi nhà khoa học không chỉ làm nghiên cứu mà còn trực tiếp góp phần bảo vệ tài nguyên và chủ quyền của đất nước. Được đặt mình vào những sứ mệnh lớn như thế là một động lực mà ít điều gì có thể thay thế.
Cùng với đó là một chiều sứ mệnh mới đang ngày càng có sức hấp dẫn, đó là được trực tiếp tham gia biến tri thức thành động lực tăng trưởng cho đất nước. Tinh thần của Nghị quyết số 57 là khoa học phải đi vào đời sống, vào sản xuất, đóng góp thiết thực cho mục tiêu tăng trưởng hai con số mà đất nước đặt ra, và Viện Hàn lâm xác định mình phải đồng hành cùng các bộ, ngành, địa phương và cộng đồng doanh nghiệp trong tiến trình ấy.
Đó là những bài toán lớn và liên ngành mà người làm khoa học có thể về với Viện để theo đuổi, như câu chuyện rất thời sự về kinh tế bay tầm thấp, nơi năng lực vệ tinh và viễn thám của Trung tâm Vũ trụ, năng lực quan trắc của Viện Các Khoa học Trái đất và nền tảng thuật toán của Viện Toán học có thể cùng kết hợp để tạo ra những giải pháp phục vụ giám sát không gian, nông nghiệp và phòng chống thiên tai.
Chính loại sứ mệnh kiến tạo giá trị thực ấy cũng đòi hỏi Viện thu hút thêm một lớp nhân tài mà lâu nay ít được gọi tên, đó là những kỹ sư trưởng, những tổng công trình sư vừa thông thạo khoa học vừa am hiểu thị trường, và tôi sẽ nói kỹ hơn về cơ chế cho nhóm này ở phần sau.
Tôi xin kể một câu chuyện rất gần để nhà báo thấy điều tôi vừa nói không phải là lý thuyết. Viện chúng tôi có một giáo sư còn rất trẻ, được đào tạo bài bản ở nước ngoài trong lĩnh vực vật liệu y sinh và công nghệ nano, những hướng mà nhiều phòng thí nghiệm quốc tế sẵn sàng mời gọi.
Anh đã chọn trở về Viện Hàn lâm, và điều đáng nói là lý do anh đưa ra không phải trước hết là chế độ đãi ngộ, mà là vì anh nhìn thấy ở đây một môi trường nghiên cứu nền tảng hàng đầu của đất nước, đủ sức theo đuổi những hướng nghiên cứu dài hạn và tạo ra các công nghệ lõi có giá trị chiến lược.
Với anh, làm khoa học không dừng ở việc tạo ra tri thức, mà phải biến tri thức ấy thành sản phẩm, thành công nghệ phục vụ đất nước; và anh trở về với mong muốn gây dựng một tập thể nghiên cứu mạnh, đào tạo một thế hệ kế cận thậm chí giỏi hơn chính mình. Tôi cho rằng những con người như vậy mới là minh chứng thuyết phục nhất rằng cú lội ngược dòng hoàn toàn không phải một tham vọng viển vông.
Bên cạnh sứ mệnh, điều thứ hai đã thay đổi căn bản là công cụ. Trước đây, ngay cả khi muốn trải thảm đỏ, chúng ta cũng bị bó bởi khung lương và cơ chế tài chính cứng. Còn nay, như tôi đã đề cập, Nghị quyết số 57 và Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo đã mở đường cho cơ chế trả công tương xứng cho nhà khoa học đầu ngành, khoán chi đến sản phẩm cuối cùng gắn với chấp nhận rủi ro, và quyền tự chủ thực chất cho người chủ trì.
Lần đầu tiên, sứ mệnh lớn đi cùng với một cơ chế đủ linh hoạt để biến mong muốn thu hút thành hành động cụ thể. Cộng thêm nền tảng mà Viện đã tích lũy qua 50 năm, với hệ thống phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia, mạng lưới hợp tác quốc tế rộng và nhiều nhà khoa học người Việt ở nước ngoài đang cộng tác, tôi cho rằng các điều kiện để lội ngược dòng đã hội tụ tương đối đầy đủ.
Tất nhiên, kỳ vọng phải được lượng hóa thì mới có giá trị điều hành. Viện Hàn lâm đặt mục tiêu đến năm 2030, tỷ lệ người có tài năng trong tổng số tuyển dụng mới đạt không dưới 20%, đồng thời mở rộng các hình thức thu hút linh hoạt ngoài biên chế như mời chủ trì nhiệm vụ, hợp tác nghiên cứu theo chương trình, để con số ấy phản ánh đúng năng lực quy tụ nhân tài thực tế của Viện chứ không bị giới hạn bởi riêng chỉ tiêu biên chế; cùng với đó, phấn đấu ở mức cao hơn trong những lĩnh vực mũi nhọn, và quan trọng không kém, giữ chân được phần lớn nhân tài tiếp tục gắn bó sau năm năm đầu tiên. Bởi với chúng tôi, trở thành điểm đến mới chỉ là một nửa câu chuyện. Nửa còn lại, và là nửa khó hơn, là trở thành nơi mà người tài muốn ở lại để theo đuổi cả sự nghiệp của mình. Đó mới là cú lội ngược dòng thực sự mà Viện Hàn lâm hướng tới.
Người tài tìm đến nơi có bài toán lớn xứng đáng với mình và quyền được tự do theo đuổi nó.
Từ thực tế triển khai các chính sách, theo Giáo sư, có còn rào cản nào trong việc thu hút nhân tài khoa học và công nghệ? Để xóa đi các rào cản ấy, Giáo sư cho rằng cần tiếp tục có các giải pháp như thế nào?
Thưa nhà báo, câu hỏi của chị chạm đúng vào vấn đề cốt lõi, và tôi xin trả lời thẳng thắn. Rào cản lớn nhất hiện nay không nằm ở chỗ thiếu chính sách. Rào cản nằm ở khoảng cách giữa chính sách và điều kiện thực thi, và phần lớn những điểm nghẽn ấy lại nằm ngoài thẩm quyền tự quyết của Viện.
Điểm nghẽn thứ nhất, và cũng là điểm tôi trăn trở nhất, là biên chế. Theo lộ trình hiện hành, Viện Hàn lâm phải tinh giản 238 biên chế trong giai đoạn 2022 đến 2026. Trong khi đó, một lớp các nhà khoa học trình độ cao đang lần lượt đến tuổi nghỉ chế độ. Hai chiều vận động ấy đặt Viện vào một nghịch lý: chúng ta mong thu hút người trẻ tài năng, đã thiết kế chương trình để mời gọi họ, nhưng khi họ sẵn sàng về thì lại thiếu chỉ tiêu để tiếp nhận chính thức. Với một cơ quan nghiên cứu khoa học cơ bản, nơi mà sự kế tục giữa các thế hệ là điều kiện sống còn, việc áp dụng định mức tinh giản chung như mọi cơ quan hành chính khác là chưa thực sự phù hợp với đặc thù.
Cũng cần nói thêm rằng để không bị động trước nghịch lý này, những năm qua Viện đã chủ động quy tụ nhân tài bằng một con đường linh hoạt hơn, đó là thông qua kinh phí các chương trình, đề tài để mời gọi cả những nhà khoa học chưa thuộc biên chế cùng tham gia nghiên cứu; nhưng đó chỉ là giải pháp tình thế, còn để giữ chân và gắn bó lâu dài thì vẫn cần một cơ chế biên chế phù hợp hơn.
Điểm nghẽn thứ hai là thu nhập. Hiện cán bộ khoa học của Viện không có phụ cấp ngành nghề đặc thù, không có phụ cấp công vụ hay thâm niên nghề như nhiều ngành khác. Trong khi đó, ở những lĩnh vực mũi nhọn mà tôi vừa nói, doanh nghiệp và khu vực bên ngoài sẵn sàng chi trả cao hơn gấp nhiều lần. Nhiều cán bộ rất yêu nghề, gắn bó với khoa học, nhưng cuối cùng vẫn phải rời Viện chỉ vì một lý do giản dị là phải bảo đảm cuộc sống cho gia đình.
Đây là nguyên nhân trực tiếp và dai dẳng nhất của hiện tượng chảy máu chất xám, và nó tập trung nặng nhất ở đúng những lĩnh vực ta cần giữ người nhất, như công nghệ vũ trụ, chế tạo vệ tinh, vật liệu đặc biệt, vật lý địa cầu, cảnh báo động đất và sóng thần.
Điểm nghẽn thứ ba mang tính kỹ thuật nhưng hệ quả không nhỏ, đó là độ trễ trong việc cụ thể hóa các cơ chế mới. Những chính sách đột phá mà Nghị quyết số 57 và các luật, nghị định mới mở ra rất đúng hướng, nhưng để áp dụng được vào một tổ chức nghiên cứu khoa học cơ bản thì cần có văn bản hướng dẫn đủ cụ thể và phù hợp với đặc thù.
Riêng việc thu hút chuyên gia người Việt ở nước ngoài và chuyên gia quốc tế, khung quy định hiện hành vẫn còn những khoảng mờ về cơ chế tài chính, điều kiện làm việc và đãi ngộ, khiến nhiều ý định hợp tác chưa thể chuyển thành cam kết dài hạn.
Từ thực tiễn ấy, tôi cho rằng các giải pháp cần đi theo hướng vừa quyết liệt vừa trúng đích. Trước hết, kiến nghị cho phép áp dụng một cơ chế biên chế đặc thù đối với cơ quan nghiên cứu khoa học, để Viện có dư địa tiếp nhận lớp kế cận thay vì bị bó cứng theo định mức hành chính chung.
Thứ hai, sớm ban hành chính sách tiền lương và phụ cấp đặc thù cho nhà khoa học, nhất là ở các lĩnh vực mũi nhọn, để thu nhập không còn là lý do buộc người tài phải dứt áo ra đi.
Thứ ba, khẩn trương xây dựng các văn bản hướng dẫn cụ thể đưa tinh thần Nghị quyết số 57 và Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo vào vận hành thực tế, trong đó có một cơ chế đủ thông thoáng và đủ hấp dẫn để thu hút chuyên gia quốc tế và mạng lưới trí thức người Việt toàn cầu.
Thứ tư, cùng với nhân lực nghiên cứu, cần có cơ chế riêng để thu hút và đãi ngộ lớp nhân lực chuyển hóa tri thức, gồm tổng công trình sư, kỹ sư trưởng và người dẫn dắt thương mại hóa, đồng thời trao quyền và tạo hành lang để Viện hình thành, vận hành các doanh nghiệp khoa học công nghệ, các spin-off đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường. Bởi nếu chỉ giỏi tạo ra tri thức mà thiếu lực lượng biến tri thức thành sản phẩm và giá trị kinh tế, thì đóng góp của khoa học vào tăng trưởng sẽ mãi dưới mức tiềm năng của nó.
Tôi muốn nhấn mạnh thêm một yếu tố mà tôi cho là quyết định, đó là tốc độ. Cánh cửa cơ hội trong những lĩnh vực như công nghệ lượng tử, bán dẫn hay khoa học biển sâu không mở mãi; ai chậm chân trong việc quy tụ con người sẽ chậm chân trong cả cuộc đua.
Vì vậy, gỡ các điểm nghẽn về nhân tài không chỉ là việc cải thiện chế độ cho người làm khoa học, mà thực chất là một quyết định mang tầm chiến lược về năng lực cạnh tranh của quốc gia. Viện Hàn lâm sẵn sàng đi đầu, đề xuất và thử nghiệm những cơ chế mới; điều chúng tôi mong mỏi là các điểm nghẽn nói trên được tháo gỡ đủ nhanh, để khát vọng trở thành điểm đến của nhân tài không bị lỡ mất thời điểm vàng của nó.
Xin trân trọng cảm ơn Giáo sư!