Giáo dục đại học thua trên 'sân nhà'? - Bài cuối: Giải pháp giữ chân người học

TP - Hệ thống giáo dục đại học (ĐH) Việt Nam đang đứng trước yêu cầu tái cấu trúc căn bản nhằm giải quyết bức tranh nghịch lí nhiều trường phải vật lộn với áp lực quy mô tuyển sinh và nguồn thu học phí, trong khi việc phát triển các ĐH tinh hoa đòi hỏi hướng đi ngược lại - chọn lọc hơn, đầu tư sâu hơn và chấp nhận chi phí đào tạo cao hơn trên mỗi sinh viên.

Tập trung nguồn lực cho đầu tàu

Để giữ chân người học, nâng cao chất lượng và thu hút nhân tài toàn cầu, việc hình thành một hệ sinh thái giáo dục ĐH đủ mạnh, chuyển đổi từ quản lí hành chính sang quản trị theo sứ mạng và hiệu quả là đòi hỏi cấp thiết. TS Võ Thanh Hải, Phó giám đốc ĐH Duy Tân, cho rằng, Việt Nam rất cần các ĐH tinh hoa và xuất sắc. Kinh nghiệm Trung Quốc, Singapore cho thấy, những quốc gia thành công đều tập trung nguồn lực lớn để xây dựng các trường ĐH dẫn dắt, thay vì phát triển dàn trải. Trong điều kiện nguồn lực tài chính và nhân lực hạn chế, tập trung đầu tư để tạo ra những điểm sáng bền vững không chỉ là lựa chọn phù hợp mà là yêu cầu bắt buộc.

Tuy nhiên, theo ông Hải, tinh hoa hay xuất sắc cần được thể chế hóa bằng một bộ chuẩn thống nhất rõ ràng do Nhà nước ban hành và kiểm soát chặt chẽ. Bộ chuẩn phải đủ rõ để đánh giá đầu vào, quá trình và đầu ra, nhưng cũng đủ linh hoạt để tạo cạnh tranh. Quan trọng hơn, cơ sở giáo dục không duy trì được chất lượng phải được sàng lọc, nhường vị trí cho những đơn vị có năng lực vươn lên.

Đây cũng là tinh thần đang được Bộ GD&ĐT đặt vào chiến lược phát triển giáo dục ĐH giai đoạn mới. GS.TS Nguyễn Tiến Thảo, Vụ trưởng Vụ Giáo dục ĐH (Bộ GD&ĐT), cho biết, hệ thống dự kiến được tổ chức theo ba tầng: 3-5 cơ sở giáo dục đại học tinh hoa; khoảng 25-30 cơ sở trọng điểm; và nhóm các cơ sở còn lại, tập trung cung cấp nguồn nhân lực trình độ cao, đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động.

Phải đào tạo được “máy cái”

Một thay đổi căn bản được đặt ra là không thể xây dựng ĐH tinh hoa nếu thiếu nghiên cứu. Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Lê Quân nhấn mạnh, muốn có ĐH dẫn dắt, trước hết phải đào tạo được “máy cái”, tức đội ngũ nhà khoa học, giảng viên ĐH giỏi và các nhà nghiên cứu có khả năng dẫn dắt lĩnh vực trọng tâm. Điều này đồng nghĩa đào tạo ĐH không thể chỉ xoay quanh giờ lên lớp và các môn học truyền thống. Sinh viên cần được tham gia đề án, dự án, nhóm nghiên cứu và các hoạt động liên ngành. Một học kì làm việc thực chất trong trung tâm nghiên cứu, dưới sự hướng dẫn của giáo sư hoàn toàn có thể trở thành một phần quan trọng của chương trình đào tạo.

Theo TS Võ Thanh Hải, thước đo cuối cùng của ĐH tinh hoa là chất lượng và trải nghiệm người học. Sinh viên phải được bước vào phòng thí nghiệm, làm việc trực tiếp với các nhóm nghiên cứu và giáo sư, qua đó phát triển đồng thời năng lực chuyên môn, phẩm chất và khả năng sáng tạo.

1.jpg
Nhà chiếu hình vũ trụ tại Đại học Phenikaa phục vụ sinh viên học tập, trải nghiệm. Ảnh: NTCC

Cách tiếp cận này cũng phù hợp với xu thế quốc tế: Nghiên cứu không còn là hoạt động tách biệt với đào tạo mà trở thành môi trường học tập ở trình độ cao. Một trường có thể sở hữu cơ sở vật chất hiện đại, nhưng nếu sinh viên không được tham gia vào quá trình tạo ra tri thức mới, khó có thể được xem như ĐH nghiên cứu thực sự.

Nếu coi nhân tài là điều kiện quyết định, cần giải bài toán tiếp theo: Làm thế nào để thu hút và giữ chân họ. TS Lê Mai Lan, Phó Chủ tịch Tập đoàn Vingroup, Chủ tịch Hội đồng Trường ĐH VinUni, cho rằng, mục tiêu của giáo dục ĐH không chỉ đào tạo người học giỏi mà phải biến trí tuệ người Việt thành tài sản trí tuệ quốc gia, góp phần đưa Việt Nam trở thành nơi “xuất khẩu” về tri thức.

VinUni đặt ra những chuẩn quốc tế cao cho quá trình phát triển, với mục tiêu 20% sinh viên quốc tế, 100% chương trình được kiểm định quốc tế, 40% giảng viên quốc tế, tiếng Anh là ngôn ngữ chính về chuyên môn và 20% chương trình nằm trong tốp 100 thế giới theo lĩnh vực. Trường cũng xác định trong 5 năm tới không mở rộng khuôn viên, thay vào đó tập trung nâng chất lượng.

Nhưng nhân tài không chỉ cần lương cao. Môi trường học thuật, quyền tự do nghiên cứu, điều kiện làm việc và cơ hội tạo ra tác động mới là những yếu tố quyết định khả năng giữ chân nhà khoa học. TS Võ Thanh Hải dẫn thực tế ĐH Duy Tân có hơn 50 nhà khoa học quốc tế làm việc toàn thời gian và cho rằng, điều giữ chân họ còn nằm ở sự hỗ trợ trong đời sống hằng ngày và không gian tự do học thuật.

Bài toán nhân tài vì vậy phải được nhìn theo chuỗi. Bộ GD&ĐT đang tính tới chính sách dành cho nhà khoa học tiềm năng từ học sinh phổ thông, nhà khoa học trẻ, nhà khoa học xuất sắc đến chuyên gia quốc tế, người Việt Nam ở nước ngoài và những nhà khoa học cao tuổi nhưng còn năng lực nghiên cứu.

Xác định trục đầu tư

Trong cuộc tái cấu trúc, trí tuệ nhân tạo (AI) và chuyển đổi số được xem là những yếu tố có thể làm thay đổi nhanh nhất mô hình ĐH. TS Võ Thanh Hải cho biết, khi ĐH Duy Tân chuyển hướng sang mô hình ĐH AI, trường gặp rào cản do một số quy định về hạ tầng, diện tích sàn và cách tính truyền thống chưa theo kịp mô hình mới.

2.jpg
Phòng thí nghiệm tại ĐH Quốc gia Hà Nội Ảnh: NTCC

TS Lê Mai Lan cho rằng, AI và Robotics có thể là những mũi nhọn để Việt Nam tạo bước bứt phá. Cùng với AI), mô hình hợp tác “ba nhà” (Nhà nước, nhà trường và doanh nghiệp) cũng cần được nâng cấp. Theo TS Võ Thanh Hải, liên kết hiện nay còn khá thô, chủ yếu là doanh nghiệp tài trợ thiết bị, phòng lab hoặc tuyển dụng sinh viên. Giai đoạn tới cần chuyển sang hợp tác nghiên cứu chuyên sâu, hình thành các trung tâm đổi mới sáng tạo trong trường đại học và cùng giải quyết những bài toán lớn của quốc gia.

Một điểm mới quan trọng trong định hướng của Bộ GD&ĐT là chuyển cơ chế tài chính từ bình quân sang đặt hàng, giao nhiệm vụ và hỗ trợ trực tiếp người học. Nhà nước không nên chỉ phân bổ nguồn lực theo mô hình trường công hay trường tư, mà cần căn cứ vào năng lực thực hiện nhiệm vụ và sản phẩm đầu ra.

GS Nguyễn Tiến Thảo cho biết, hệ thống sẽ hướng tới quản trị bằng dữ liệu, thay vì phân bổ nguồn lực chủ yếu theo số lượng sinh viên. Dữ liệu tuyển sinh, quá trình học tập, việc làm, thu nhập và quá trình đóng góp của sinh viên sau tốt nghiệp sẽ được sử dụng để đánh giá hiệu quả đào tạo.

Một ngành đào tạo có thể tuyển sinh tốt nhưng nếu sinh viên ra trường khó tìm việc, làm trái ngành hoặc thu nhập không cao hơn đáng kể so với lao động phổ thông, thì cần đặt lại câu hỏi về quy mô và sự cần thiết của ngành đó. Ngược lại, những chương trình tạo ra nguồn nhân lực có giá trị cao phải được ưu tiên đầu tư.

Tái cấu trúc hệ thống ĐH, xét cho cùng, không chỉ nhằm tạo ra những danh xưng có thứ hạng quốc tế. Mục tiêu sâu xa hơn là làm cho người học Việt Nam nhìn thấy ở trong nước có môi trường đủ tốt để họ không phải ra nước ngoài chỉ vì thiếu cơ hội học tập và nghiên cứu.

Khi nguồn lực được dồn vào đúng nơi, nhân tài được trao không gian cống hiến, sinh viên được học trong môi trường nghiên cứu và doanh nghiệp cùng tham gia giải quyết bài toán thực, các trường đại học của Việt Nam mới có thể trở thành điểm đến thay vì điểm đi của người học và người tài. Đó cũng là ý nghĩa lớn nhất của cuộc tái cấu trúc không đơn thuần sắp xếp lại các trường, mà xây dựng lại năng lực cạnh tranh của giáo dục đại học Việt Nam.

Muốn vậy, chất lượng phải hiện diện trong toàn hệ thống. ĐH tinh hoa cần đủ sức cạnh tranh toàn cầu. ĐH trọng điểm phải dẫn dắt theo vùng, ngành, lĩnh vực. Nhóm cơ sở còn lại phải bảo đảm sinh viên tốt nghiệp có năng lực thực chất và đáp ứng được thị trường lao động.

Theo định hướng giai đoạn 2026-2030, Việt Nam đặt mục tiêu có khoảng 8-10 cơ sở giáo dục ĐH vào nhóm khoảng 200 đại học hàng đầu châu Á, 1-2 cơ sở ở đẳng cấp hàng đầu thế giới và 3-5 cơ sở phát triển theo hướng ĐH tinh hoa. Mục tiêu dành khoảng 3% tổng đầu tư cho giáo dục ĐH cũng được đề xuất nhằm tạo thêm nguồn lực cho quá trình chuyển đổi.