Doanh nghiệp Nhà nước nắm giữ khối tài sản 'khủng' nhưng chưa được khai thác hiệu quả

Tại hội thảo "Tái cơ cấu doanh nghiệp Nhà nước: Từ sắp xếp nguồn lực đến dẫn dắt tăng trưởng” do Báo Tiền phong tổ chức mới đây, ông Bùi Khắc Hiền, Phó Vụ trưởng Vụ Kế hoạch - Tài chính (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho rằng, nhiều doanh nghiệp đang quản lý khối tài sản trị giá hàng nghìn tỷ đồng nhưng lại không có quyền chủ động khai thác để tạo ra tăng trưởng. 

Nắm khối tài sản "khủng"

Chia sẻ tại hội thảo "Tái cơ cấu doanh nghiệp Nhà nước: Từ sắp xếp nguồn lực đến dẫn dắt tăng trưởng” do Báo Tiền phong tổ chức ngày 21/7, đại diện Cục Phát triển doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) - Bộ Tài chính cho biết, sau hơn ba thập kỷ đổi mới, số lượng DNNN đã giảm từ hơn 12.000 xuống còn 695 vào cuối năm 2025, gồm 497 doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và 198 doanh nghiệp có vốn nhà nước chi phối.

Dù số lượng giảm mạnh, khu vực DNNN vẫn nắm giữ nguồn lực rất lớn của nền kinh tế. Khối doanh nghiệp này đang quản lý khoảng 4,5 triệu tỷ đồng tài sản, đạt doanh thu gần 2,9 triệu tỷ đồng và đóng góp khoảng 390.000 tỷ đồng vào ngân sách nhà nước mỗi năm.

Tuy nhiên, tiến trình cơ cấu lại vẫn diễn ra chậm hơn kỳ vọng. Đến hết năm 2025, mới có 180 trong tổng số 676 doanh nghiệp hoàn thành đề án cơ cấu lại trong khi chưa có doanh nghiệp nào hoàn tất cổ phần hóa và chỉ 17/146 doanh nghiệp hoàn thành kế hoạch thoái vốn.

ong-bui-khac-hien.jpg
Ông Bùi Khắc Hiền - Phó Vụ trưởng Vụ Kế hoạch - Tài chính (Bộ Nông nghiệp và Môi trường). Ảnh: Dương Triều

Theo ông Bùi Khắc Hiền, Phó Vụ trưởng Vụ Kế hoạch - Tài chính (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), vấn đề cốt lõi hiện nay là cơ chế quản lý và sử dụng nguồn lực của DNNN chưa thực sự rõ ràng.

Ông cho rằng, nhiều doanh nghiệp đang quản lý khối tài sản trị giá hàng nghìn tỷ đồng nhưng lại không có quyền chủ động khai thác để tạo ra tăng trưởng.

"Chúng ta cần trả lời hai câu hỏi lớn. Thứ nhất, cơ quan đại diện chủ sở hữu là ai, trách nhiệm đến đâu. Thứ hai, tài sản và vốn đã giao cho doanh nghiệp thì doanh nghiệp có được quyền sử dụng như một nguồn vốn thực sự để kinh doanh hay không, hay chỉ yêu cầu doanh nghiệp tăng trưởng nhưng lại không trao các quyền cần thiết", ông Hiền nêu quan điểm.

Theo ông, với những tài sản đặc biệt như công trình hạ tầng quốc gia hay tài sản công ích, doanh nghiệp đương nhiên không thể sử dụng để thế chấp hoặc khai thác như tài sản thương mại. Tuy nhiên, trên thực tế, giá trị các tài sản này vẫn được tính vào quy mô vốn của doanh nghiệp, trong khi doanh nghiệp chỉ được giao nhiệm vụ quản lý, vận hành mà không có quyền khai thác để tạo thêm giá trị.

Một vướng mắc khác là vấn đề đất đai. Doanh nghiệp không thể chủ động thay đổi mục đích sử dụng hoặc khai thác theo nhu cầu thị trường do phải tuân thủ nhiều quy định của pháp luật. Sau những vụ việc sai phạm xảy ra tại một số doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp sau cổ phần hóa, tâm lý e ngại trách nhiệm cũng ngày càng phổ biến.

"Không ít cán bộ quản lý hiện nay rất thận trọng, không ai dám quyết định", ông Hiền nói.

Từ thực tế này, ông đề xuất cần phân định rõ trách nhiệm giữa cơ quan đại diện chủ sở hữu vốn, Bộ Tài chính, các bộ quản lý ngành và Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC).

Trao quyền, gỡ vướng để tăng tốc tái cơ cấu

Theo ông Nguyễn Ngọc Anh - đại diện Vụ Kế hoạch, Tài chính và Quản lý doanh nghiệp - Bộ Công Thương, sau quá trình sắp xếp, cổ phần hóa và thoái vốn, từ hàng trăm doanh nghiệp trước đây, hiện Bộ Công Thương chỉ còn thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu tại 7 doanh nghiệp, trong đó có 5 DNNN nắm giữ trên 50% vốn điều lệ.

ong-nguyen-ngoc-anh.jpg
Ông Nguyễn Ngọc Anh - đại diện Vụ Kế hoạch, Tài chính và Quản lý doanh nghiệp - Bộ Công Thương. Ảnh: Dương Triều

Riêng trong năm 2025, Bộ đã phối hợp với SCIC chuyển giao phần vốn nhà nước tại 5 doanh nghiệp, với tổng giá trị hơn 1.900 tỷ đồng. Tuy nhiên, theo ông Ngọc Anh, quá trình triển khai vẫn gặp nhiều vướng mắc về thể chế. Điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là quy định doanh nghiệp phải hoàn tất xử lý tài chính và được phê duyệt phương án sử dụng đất trước khi thực hiện cổ phần hóa.

Ông dẫn chứng trường hợp Tổng công ty Giấy Việt Nam bắt đầu cổ phần hóa từ năm 2015 nhưng đến nay vẫn chưa thể hoàn tất do vướng mắc liên quan đến Dự án bột giấy Phương Nam cùng nhiều tồn tại về tài chính. Phải đến năm 2025, Quốc hội mới ban hành nghị quyết tháo gỡ và năm 2026 Chính phủ mới tiếp tục có nghị quyết xử lý các tồn đọng.

Bên cạnh đó, việc xây dựng và phê duyệt phương án sử dụng đất giữa doanh nghiệp, cơ quan đại diện chủ sở hữu và chính quyền địa phương còn thiếu sự phối hợp đồng bộ. Nhiều địa phương đến nay vẫn chưa hoàn thành việc phê duyệt phương án sử dụng đất, khiến tiến độ cổ phần hóa tiếp tục bị kéo dài.

Đánh giá về định hướng hình thành tổ chức đầu tư và quản lý vốn nhà nước theo hướng chuyên nghiệp, ông cho rằng đây là mô hình phù hợp với thông lệ quốc tế và các nguyên tắc quản trị của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) khi tách bạch chức năng quản lý nhà nước với chức năng đại diện chủ sở hữu vốn. Tuy nhiên, để quá trình chuyển giao diễn ra thuận lợi, cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý và cơ chế phối hợp giữa các cơ quan.

Bên cạnh những vấn đề thể chế, ông Doãn Thanh Tuấn - Phó Cục trưởng Cục Phát triển DNNN - Bộ Tài chính cho rằng, tiến độ tái cơ cấu chậm còn xuất phát từ năng lực thực thi và tâm lý sợ sai của đội ngũ cán bộ.

Theo ông, việc còn nhiều tầng nấc quản lý, chưa phân cấp, phân quyền triệt để khiến nhiều người lựa chọn xin ý kiến nhiều cấp để bảo đảm an toàn thay vì chủ động quyết định theo thẩm quyền. Điều này không chỉ kéo dài thời gian xử lý công việc mà còn làm doanh nghiệp bỏ lỡ cơ hội phát triển.

Để khắc phục tình trạng này, ông Tuấn đề xuất ba giải pháp trọng tâm. Thứ nhất, cần có cơ chế bảo vệ người thực thi khi họ làm đúng quy định, đúng quy trình, công khai, minh bạch và không vụ lợi. Thứ hai, đơn giản hóa, thống nhất khung pháp lý về tái cơ cấu DNNN, đặc biệt là các quy định liên quan đến định giá tài sản.