'Đánh thắng Tòa Đại sứ Mỹ, em về cưới chị'

TPO - Giữa những đau thương của trận Tết Mậu Thân 1968, câu chuyện về cô giao liên biệt động cùng mối tình dở dang với người đồng đội kém 2 tuổi - chiến sĩ hy sinh tại Tòa Đại sứ Mỹ, là nốt trầm xúc động, lần đầu được hé lộ sau hàng thập kỷ lặng thầm giữ kín.

Những ngày cuối tháng 8, phóng viên Tiền Phong có dịp gặp bà Nguyễn Ngọc Huệ (81 tuổi), người từng được đồng đội gọi thân mật là “Cô Ba biệt động”. Ở tuổi 81, bà vẫn nhớ rõ những con đường rừng, chuyến xe bò, những lần vượt chốt địch và cả những tháng ngày bị bắt, tra tấn.

Nhưng giữa những ký ức khốc liệt ấy, có một câu chuyện bà ít khi kể. Mỗi lần nhắc đến, giọng người nữ biệt động năm xưa chùng xuống.

tp-c_30.jpg
Bà Nguyễn Ngọc Huệ, người từng được đồng đội gọi thân mật là “Cô Ba biệt động”, trong cuộc trò chuyện với phóng viên. Ảnh: Nguyễn Tiến

Đó là câu chuyện về Cao Hoài Vinh, người chiến sĩ biệt động kém bà hai tuổi. Họ gặp nhau giữa chiến tranh, yêu nhau qua những chuyến công tác và chỉ có những phút ngắn ngủi bên nhau. Trước một lần lên đường, Vinh nói như một lời hẹn: “Đánh thắng Tòa Đại sứ Mỹ, em về cưới chị”.

Lời hẹn trước giờ ra trận

Ngày ấy, Vinh làm nhiệm vụ bảo vệ các thủ trưởng. Mỗi khi có cán bộ cần xuống thành phố hoặc đưa người từ nội đô lên vùng giải phóng, anh lại nhận nhiệm vụ đưa đón.

Huệ là cô giao liên trẻ, thường xuyên đi lại giữa căn cứ và thành phố. Những chuyến công tác đưa họ gặp nhau nhiều hơn.

tp-c_7.jpg
Bà Nguyễn Ngọc Huệ kể về người chiến sĩ Cao Hoài Vinh, mối tình dang dở thời chiến mà bà ít khi nhắc đến. Ảnh: Nguyễn Tiến

Một lần, Vinh chở Huệ trên con đường rừng nhỏ, chỉ vừa đủ một chiếc xe đạp. Đi khoảng một cây số, vừa ra đến khoảng trống, cả hai bất ngờ nghe tiếng trực thăng địch.

Tiếng động cơ mỗi lúc một gần. Máy bay quần thảo trên đầu rồi xả súng xuống mặt đất. Người dân hoảng sợ, đóng kín cửa, không dám mở cho hai chiến sĩ vào trú vì sợ bị địch phát hiện.

Vinh bảo Huệ nằm xuống công sự, còn mình chạy ra giữa đồng trống.

“Chị cứ nằm dưới công sự để tôi xử lý cho!”, bà Huệ nhớ lại lời Vinh dặn lúc đó.

Bà Huệ nói, khi ấy vừa sợ vừa lo nói “Vinh làm sao mà xử lý?”. Vinh nhỏ hơn bà hai tuổi nên bà vẫn xưng chị, gọi anh là Vinh.

tp-c_1788095705951-7457310976614381129-7457310976614381129-c82c65343396a1883742caf413d20da3.jpg
Bia tưởng niệm các chiến sĩ Biệt động Sài Gòn hy sinh năm 1968, trong đó có Cao Hoài Vinh – người yêu của “Cô Ba biệt động” Nguyễn Ngọc Huệ. Ảnh: Nguyễn Tiến

Người chiến sĩ trẻ vác súng chạy ra giữa đồng, cố tình đứng ở vị trí trống trải để thu hút hỏa lực. Trực thăng liên tục quần thảo trên đầu, đạn cày tung mặt đất quanh người anh. Vinh vừa né tránh vừa di chuyển, tìm cách kéo máy bay ra xa khu dân cư và nơi Huệ đang ẩn nấp.

Đến khi trực thăng bắn hết đạn, pháo tiếp tục dội xuống. Chỉ khi tiếng súng im hẳn, người dân mới từ nơi trú ẩn bò ra. Thấy Huệ và Vinh còn sống, nhiều người chạy đến ôm chầm lấy hai chiến sĩ, vừa khóc vừa xin lỗi vì trước đó không dám mở cửa cho họ vào trú, sợ máy bay phát hiện rồi bắn cháy nhà.

Lời xin lỗi mộc mạc giữa khói lửa chiến tranh khiến Huệ nhớ mãi. Có lẽ cũng từ những lần cùng nhau đi qua hiểm nguy như thế, tình cảm giữa bà và Vinh ngày một sâu đậm.

Rồi một ngày, đơn vị chuẩn bị cho một chiến dịch lớn. Thủ trưởng gợi ý để Vinh tham gia cùng anh em và hứa nếu hoàn thành nhiệm vụ, trở về sẽ tổ chức đám cưới cho hai người.

Trước giờ lên đường, Vinh trao cho Huệ một chiếc khăn. Anh dặn:

“Chị Huệ ở lại công tác tốt nha. Em đi đợt này quyết hoàn thành nhiệm vụ. Anh Ba nói gì chị nghe rồi đó... Tới chừng đó rồi tính!”. Rồi Huệ ở lại căn cứ, Vinh cùng đồng đội lên đường.

Lúc chia tay, cả hai có lẽ đều nghĩ rồi sẽ có ngày gặp lại, nhưng không ai biết chuyến đi ấy đã khép lại lời hẹn “Đánh thắng Tòa Đại sứ Mỹ, em về cưới chị”, để rồi câu nói ấy chỉ còn lại trong ký ức của người ở lại.

Trận đánh không có ngày trở về

Theo lời kể của bà Huệ, Cao Hoài Vinh là chiến sĩ nhỏ tuổi nhất tham gia trận đánh vào Tòa Đại sứ Mỹ trong Tết Mậu Thân 1968.

Địch phản kích dữ dội. Giữa lúc giao tranh, một người trong đoàn hoảng sợ, nhảy lên máy bay địch chiêu hồi. Vinh cùng những người còn lại vẫn bám trụ, chiến đấu đến cùng.

tp-c_13.jpg
Bà Nguyễn Ngọc Huệ nhớ lại khoảnh khắc hay tin Cao Hoài Vinh hy sinh, bà đã khóc cạn nước mắt. Ảnh: Nguyễn Tiến

Vinh nấp sau một bức tường lớn để bắn trả. Bất ngờ, hỏa lực địch dội xuống, bức tường đổ sập. Người chiến sĩ trẻ hy sinh tại chỗ.

Tin dữ theo những người sống sót trở về căn cứ. Huệ nghe tin, cùng đồng đội khóc hết nước mắt. Người mới hôm nào còn hẹn hoàn thành nhiệm vụ sẽ trở về cưới bà, giờ đã nằm lại giữa trận đánh.

Lời hẹn “tới chừng đó rồi tính” cũng dừng lại từ đó. Người hẹn cưới bà đã không bao giờ trở về.

Cô gái 15 tuổi bước vào “vành đai lửa”

Nhắc đến Cao Hoài Vinh, bà Huệ không kể nhiều về mình. Nhưng phía sau cô gái được người chiến sĩ trẻ hẹn ngày cưới là cả một tuổi trẻ đi qua những năm tháng khốc liệt nhất của chiến tranh.

tp-c_19.jpg
Bà Huệ kể lại lần dùng bộ ván gỗ giấu đạn để vượt qua chốt kiểm soát của địch.
Ảnh: Nguyễn Tiến

15 tuổi, bà đã tham gia cách mạng, làm giao liên trong căn cứ. Ngày 1/10/1964, bà chính thức nhập ngũ, được ông Năm Lai - Anh hùng Lực lượng vũ trang Trần Văn Lai và ông Ba Đen, sau này là chỉ huy đội biệt động A30, hướng dẫn công việc.

Ban đầu, bà Huệ chỉ đưa thư giữa các căn cứ trong rừng. Đi nhiều, thuộc đường, bà được giao đưa thư từ Hố Bò, Củ Chi về nội đô Sài Gòn - Gia Định, rồi đón cán bộ từ thành phố trở lại căn cứ.

“Đi riết rồi quen”, bà nhớ lại.

Nhưng từ năm 1965, khi lính Mỹ đóng tại Đồng Dù, những chuyến đi càng trở nên nguy hiểm. Có lần, trên đường đưa cán bộ từ thành phố lên căn cứ, trực thăng địch phát hiện và lập tức truy đuổi, nổ súng. Những người vừa được đón từ nội đô phải bò sát theo các gốc cây tránh đạn, còn Huệ chờ đến khi tiếng súng lắng xuống mới tiếp tục đưa mọi người đi.

Rồi những lá thư không còn là thứ duy nhất bà mang qua các tuyến đường. Tiền, thuốc tây, hàng hóa và vũ khí lần lượt được đưa vào nội đô bằng đủ cách ngụy trang.

Bà nhớ nhất một chuyến chở bộ ván gỗ chứa đầy đạn AK.

hinh-3-ouaa.jpg
Những sọt cà chua, khoai mì giấu vũ khí đưa đi tập hợp ở hầm bí mật nhà ông Năm Lai để Tổng tiến công Mậu Thân năm 1968.

Chiếc xe bò vừa ra đường thì gặp lính địch đang càn. Thấy bộ ván, chúng tiến đến săm soi. Trong khoảnh khắc, Huệ nghĩ ra lý do rằng bà sợ pháo nổ làm hư bộ ván nên chở về nhà ngoại gửi.

Không những tin lời, một người lính còn giúp bà đưa bộ ván lên xe.

“Nhờ mấy anh đưa qua xe giùm tôi”, bà nói.

Bộ ván chứa đạn nhờ thế vượt qua chốt. Huệ lấy nón quạt làm hiệu cho ông Năm Lai biết đường đã an toàn. Chỉ đến khi đi được một đoạn, bà mới giật mình nhớ phần dưới bộ ván đã bị va chạm, nếu lính kiểm tra kỹ, số đạn bên trong khó lòng giấu được.

“Thật may quân địch đã không kiểm tra phần dưới bộ ván”, bà kể.

Lần bị bắt, tra tấn

Hồi đó, Huệ chủ yếu làm nhiệm vụ đưa thư. Một lần, bà được bổ sung vào tiểu đội xuống khu vực Trường đua Phú Thọ hoạt động, đi cùng chị Ba đang bế con mới 3 tháng tuổi.

Vừa vào nhà, thấy lính địch liên tục đi lại, Huệ hỏi chị Ba. Chị chỉ trấn an: “Cô cứ yên trí... không có gì cho cô sợ”.

tp-c_14.jpg
Sau lần bị bắt và trải qua hơn ba tháng trong tay địch, bà Huệ vẫn không tiết lộ bí mật của tổ chức. Ảnh: Nguyễn Tiến

Chiều hôm đó, một người trong tiểu đội đã chiêu hồi. Địch mang súng thu được đến tra hỏi. Thấy Huệ nằm trên giường, chúng chỉ tay: “Cầm luôn nhỏ này!”.

Huệ cãi: “Tôi đâu có làm gì mà mấy ông bắt? Tôi chỉ xuống đây chơi nhà chị Ba thôi!”. Bị cáo buộc là giao liên, trinh sát, dẫn đường, bà vẫn một mực nói mình ở Trảng Bàng, chỉ trồng cà, trồng dưa.

tp-c_9.jpg
Bà Huệ chỉ vào chân, nơi vẫn còn dấu vết của những trận đòn tra tấn năm xưa.
Ảnh: Nguyễn Tiến

Không tin, địch đưa bà về tra tấn. Chúng dùng thước gỗ, thước sắt đánh vào những chỗ có xương, rồi dọa chích điện, dìm đầu xuống nước, bịt mắt, nhốt vào xô để ép khai. Nhưng bà nhất quyết không nói.

Địch còn nhốt Huệ chung với một kẻ chiêu hồi khoảng ba tháng rưỡi để nhận mặt. Mỗi lần bị đưa ra đối chất, bà lại ôm hai tay lên má, giả vờ đau đớn: “Mẹ ơi lạc răng, nhức răng quá!”.

Kẻ chiêu hồi nhìn mãi vẫn không nhận ra.

tp-c_6.jpg
Kỷ niệm chương “Chiến sĩ cách mạng bị địch bắt tù, đày” được gia đình bà Huệ lưu giữ, treo trang trọng trên tường nhà.

Cuối cùng, không khai thác được gì, địch đành thả bà. Trở về căn cứ, Huệ tiếp tục công việc như chưa từng trải qua những tháng ngày bị giam cầm.

Sau ngày đất nước thống nhất, Bà Huệ trở về cuộc sống đời thường. Hôm nay, ở tuổi xế chiều, bà sống bình yên bên con cháu trong căn nhà nhỏ ở Huyện Củ Chi (cũ), TPHCM, mỗi ngày đọc sách, đọc báo.

tp-c_5.jpg
tp-c_8.jpg
Ở tuổi xế chiều, bà Huệ hạnh phúc bên con cháu sau những năm tháng chiến tranh.
Ảnh: Nguyễn Tiến

“Chuyện đã qua từ lâu rồi. Tôi xem kỷ niệm giữa tôi và Vinh là thời thanh xuân, kỷ niệm của một người yêu, một người đồng đội, những ngày tôi chiến đấu vì lý tưởng của mình”, bà nói.

Bà Trần Thị Kim Cương (SN 1978), con dâu bà Huệ, là người thường xuyên chăm sóc mẹ chồng. Bà cho biết từng nghe bà Huệ kể về mối tình thời chiến. Với gia đình, câu chuyện ấy giờ đã trở thành một kỷ niệm gắn với những năm tháng bà Huệ tham gia cách mạng và sự son sắt với lý tưởng của thế hệ cha anh.

“Chuyện đã xảy ra từ rất lâu, từ thời mẹ tôi tham gia cách mạng, trước cả khi quen cha tôi. Gia đình xem đó như một kỷ niệm của mẹ. Chúng tôi chỉ mong mẹ luôn khỏe mạnh, sống vui cùng con cháu”, bà Cương nói.

Sau những năm tháng chiến tranh và mối tình dang dở, câu chuyện năm xưa giờ đã trở thành một kỷ niệm thời chiến trong lòng bà Huệ. Bên cạnh bà hôm nay là con cháu quây quần, cùng bà tận hưởng những ngày bình yên, hạnh phúc sau một đời nhiều gian truân.