Một ngày cuối tháng 8, phóng viên về Trung Lập thuộc vùng đất Củ Chi (TPHCM), hỏi thăm ông Bảy Hôn (Phan Văn Hôn), ai cũng biết và chỉ đến căn nhà nhỏ của người cựu chiến binh đang tuổi 81. Ông là một trong những nhân chứng sống hiếm hoi của Đội 5 Biệt động Sài Gòn, đơn vị từng trực tiếp đánh vào Dinh Độc Lập trong trận Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968.
Sức khỏe của người lính đặc công năm xưa đã suy giảm nhiều bởi các bệnh nền và vết thương do mảnh đạn chiến trường, nhưng mỗi khi nhắc lại trận đánh cách đây gần 60 năm, ánh mắt ông vẫn bộc lộ rõ sự tinh anh của một người từng đi qua lằn ranh sinh tử.
Bản báo cáo thành tích làm trước giờ ra trận
Ông Phan Văn Hôn sinh ra và lớn lên tại Củ Chi. Từ tuổi thiếu niên, ông đã cùng người dân địa phương đào hầm, tham gia làm địa đạo. Đến năm 1962, ông chính thức nhập ngũ, thuộc đơn vị K18 Quân khu Sài Gòn - Gia Định với nhiệm vụ của một lính đặc công chuyên đánh đồn bốt.
"Sợ thì ai cũng biết sợ. Giữa lằn ranh sống chết, làm sao không sợ cho được. Nhưng nhìn nhà cửa bị tàn phá, người dân bị giết hại, mình buộc lòng phải cầm súng", ông Hôn chia sẻ.
Năm 1967, ông cùng các đồng đội được điều động về lực lượng Biệt động Sài Gòn. Công tác chuẩn bị cho chiến dịch lớn được giữ bí mật tuyệt đối. Các chiến sĩ sống ẩn mình trong lòng đô thị dưới nhiều vỏ bọc khác nhau như thợ hồ, thợ trang trí, người đạp xích lô. Vũ khí được các tuyến giao liên âm thầm vận chuyển từ vùng căn cứ vào cất giấu trong các căn hầm ngầm ngay giữa nội thành.
Trực tiếp gặp gỡ lực lượng biệt động trước giờ G, Thiếu tướng Trần Hải Phụng - Tư lệnh Quân khu Sài Gòn - Gia Định thời bấy giờ, giao nhiệm vụ với tinh thần ngắn gọn: "Đảng nuôi quân ngàn thuở, sử dụng một giờ. Đây là trận chiến mà sống còn chỉ là điều may mắn".
Trước khi ra trận, 16 chiến sĩ Đội 5 phải làm một bản báo cáo thành tích cá nhân - một dạng thủ tục chuẩn bị cho tình huống hy sinh. Mỗi người được đơn vị cấp 30.000 đồng (tiền thời bấy giờ). Số tiền này được gọi nôm na là "tiền tử", dùng để lo hậu sự nếu ngã xuống, hoặc tự xoay xở giữ mạng sống nếu sa vào tay đối phương.
Đêm 28 Tết âm lịch, toàn đội tập trung tại một địa điểm ở ấp Chánh, xã An Tịnh (huyện Trảng Bàng). Những tấm khăn che mặt được tháo bỏ để các đồng đội lần đầu nhìn rõ mặt nhau. Họ ăn chung mâm cơm có món gà luộc, làm lễ thề quyết tử rồi chuẩn bị tiến vào nội đô.
Căn hầm giấu vũ khí đường Nguyễn Đình Chiểu
Ngày 29 Tết, các chiến sĩ Đội 5 chia nhỏ lực lượng, dùng căn cước giả di chuyển bằng xe lam, xe Honda qua các trạm gác để vào Sài Gòn. Khoảng 16 giờ chiều, họ tập kết đông đủ tại căn nhà của ông Trần Văn Lai (bí danh Năm Lai) nằm trên đường Nguyễn Đình Chiểu. Ông Năm Lai đóng vai nhà thầu khoán trang trí Dinh Độc Lập để ngụy trang.
Dưới căn hầm ngầm bí mật chứa đầy súng đạn, 15 chiến sĩ tập trung lau chùi vũ khí, tra lắp kíp nổ. Phía trên, ông Năm Lai cùng nữ giao liên Chín Nghĩa (Vũ Minh Nghĩa) chịu trách nhiệm cảnh giới. Khi phát hiện hai tên cảnh sát đối phương đi tuần tiến lại gần nhà, ông Năm Lai nhanh trí khoác chiếc áo đại úy cảnh sát ngụy bước ra trước cửa. Thấy "cấp trên", hai tên tuần tra lập tức lảng đi nơi khác, giữ an toàn cho căn hầm bên dưới.
Khi chỉ huy Tư Tăng (Nguyễn Văn Tăng) xuống hầm trải bản đồ và chính thức thông báo mục tiêu tấn công là Dinh Độc Lập - cơ quan đầu não của chính quyền Sài Gòn, các chiến sĩ mới biết chính xác điểm đến của mình.
"Nghe xong, anh em hồ hởi lắm. Đánh vào chỗ đó, nếu có hy sinh thì cũng đáng cái mạng mình", ông Bảy Hôn nhớ lại.
30 phút bất ngờ và cuộc cố thủ giằng co
Đúng 0 giờ mùng 1 Tết Mậu Thân 1968, 3 chiếc ô tô cùng xe máy chở Đội 5 lao về phía cổng hông Dinh Độc Lập trên đường Nguyễn Du. Ngồi ở xe tiên phong, ông Bảy Hôn dùng súng ngắn nổ súng tiêu diệt 2 tên lính gác cổng.
Tuy nhiên, việc phá cổng chính gặp sự cố: quả bộc phá đặt ở cổng không phát nổ như dự kiến, các lượt xe húc vào cũng không thể làm sập cánh cổng thép kiên cố. Từ trên nóc dinh, hỏa lực đại liên liên tục xả xuống mặt đường. Đội trưởng Ba Thanh (Tô Hoài Thanh) trúng đạn hy sinh.
Trước tình thế bất lợi, 4 chiến sĩ lọt được vào bên trong đã dùng B40 khống chế hỏa lực nóc dinh, chiếm giữ vị trí. Tuy nhiên, chỉ khoảng 10-15 phút sau, đối phương huy động lực lượng lớn phản công. Cả 4 chiến sĩ xâm nhập đều lần lượt ngã xuống.
Số còn lại tiếp tục bám trụ tại khu vực cổng đường Nguyễn Du để chờ lực lượng chi viện theo kế hoạch. Đến 5 giờ 30 phút sáng, nhận thấy quân chi viện không thể vào nội thành, lực lượng còn lại gồm 8 người (trong đó có bà Chín Nghĩa bị thương) quyết định rút vào một tòa nhà đang xây dở dang đối diện cổng sau Dinh Độc Lập để cố thủ.
Trận chiến kéo dài giằng co từ sáng đến chiều. Đối phương lần theo vết máu để vây ráp. Với lượng súng đạn ít ỏi còn lại, các chiến sĩ biệt động giữ chặt các lối cầu thang, ngăn chặn các đợt tiến công.
"Địch đưa lên bao nhiêu người mình đánh bấy nhiêu. Đến chiều thì anh em kiệt sức, đạn dược gần như hết sạch", ông Hôn kể.
Đến gần 17 giờ, các chiến sĩ gom toàn bộ lựu đạn còn lại tổ chức một đợt đánh chặn lớn để tạo yếu tố bất ngờ, khiến đối phương lầm tưởng lực lượng biệt động còn đông. Nhân lúc khói đạn mù mịt, họ rút lên các mái nhà dân lân cận để ẩn nấp. Đến sáng mùng 3 Tết, sau nhiều ngày nhịn ăn và kiệt sức, ông Bảy Hôn cùng các đồng đội còn sống bị phát hiện và bị bắt.
Cuộc vượt ngục tại trại giam Hố Nai
Sau khi bị bắt, ông Bảy Hôn bị giam tại Khám Chí Hòa 2 tháng, chịu nhiều đợt tra tấn nặng nề nhưng không khai báo thông tin đơn vị. Đối phương định đưa nhóm biệt động ra xét xử tử hình nhanh, nhưng kế hoạch bị hoãn lại do lo ngại phía Cách mạng đáp trả đối với các phi công Mỹ bị bắt ở miền Bắc.
Cuối cùng, ông nhận án tù chung thân và bị đưa ra giam giữ tại Côn Đảo. Năm 1973, sau khi Hiệp định Paris được ký kết, đối phương chuyển nhiều tù binh từ Côn Đảo về trại giam Hố Nai (Biên Hòa). Tại đây, tận dụng sơ hở trong quá trình dịch chuyển, ông Bảy Hôn cùng một số đồng đội đã tổ chức cuộc vượt ngục, đưa 21 chiến sĩ trốn thoát thành công trở về vùng giải phóng.
Do mắc sốt rét ác tính sau thời gian dài bị tù đày, ông không thể ra Bắc tập kết mà ở lại trạm xá chữa trị, sau đó tiếp tục công tác tại Quân khu Sài Gòn - Gia Định.
Trăn trở sau ngày hòa bình
Sau năm 1975, ông Bảy Hôn trở về quê nhà Củ Chi, từng làm Phó chủ tịch ấp, Trưởng ban Nông hội. Cuộc sống thời hậu chiến khó khăn, để có tiền nuôi 5 người con, ông xin nghỉ hưu sớm, làm đủ nghề từ vót cần câu, đặt bẫy bắt cá kiếm sống qua ngày. Những năm gần đây, ông được ông Trần Văn Bình (con trai của cố Anh hùng Trần Văn Lai) hỗ trợ chăm sóc, phụ giúp chi phí sinh hoạt và viện phí.
Mỗi dịp Tết đến hay ngày kỷ niệm chiến dịch, ông Hôn lại chuẩn bị mâm cơm đơn giản gồm cơm trắng, canh khổ qua, thịt kho để làm giỗ cho các đồng đội đã ngã xuống. Trận đánh Dinh Độc Lập năm đó khiến 8 trong số 16 người của Đội 5 hy sinh tại chỗ.
"Điều tôi đau đớn nhất là lúc đó không thể mang thi thể đồng đội rời khỏi trận địa. Nhiều người nằm lại khi tuổi đời còn rất trẻ. Nhưng những ngày này, khi TPHCM tổ chức quy tập, tìm kiếm hài cốt liệt sĩ ở khu vực Công viên Lê Thị Riêng, tôi luôn mong mỏi sẽ tìm lại được những người đồng đội năm xưa, những người chưa kịp thấy ngày đất nước thống nhất", người cựu chiến binh rơm rớm nước mắt.
Chiến tranh đã lùi xa gần sáu thập kỷ. Những căn hầm bí mật năm xưa giờ đã trở thành di tích lịch sử, còn những người lính biệt động năm ấy như ông Bảy Hôn, vẫn kiên cường đi qua những năm tháng còn lại ở vùng đất thép Củ Chi, mang theo ký ức về một thời chiến đấu không bao giờ quên.