Những ngày cuối tháng Tám, phóng viên Báo Tiền Phong có cuộc trò chuyện đặc biệt với ông Phạm Duy Lâm, người từng trực tiếp bảo vệ Thiếu tướng Trần Hải Phụng trong những năm chiến tranh.
Dù đang dưỡng bệnh tại quê nhà Nam Định và tuổi đã cao, ông Lâm vẫn vui vẻ kể qua điện thoại từng câu chuyện về những ngày theo sát vị Tư lệnh, giữa những chuyến công tác và trận càn khốc liệt.
Ảnh: Xuân Mai
Ông Phạm Duy Lâm (76 tuổi), quê tỉnh Bắc Ninh, nhập ngũ tháng 2/1968. Đến tháng 11/1968, ông được bổ sung về bộ phận của Thiếu tướng Trần Hải Phụng và từ tháng 12/1968 chính thức làm nhiệm vụ bảo vệ trực tiếp vị Tư lệnh.
“Tôi được phân công lên bảo vệ, trực tiếp chú Hải Phụng ngày đêm. Tôi phải bảo vệ an toàn cho chú đi họp, các hoạt động chỉ đạo của chú”, ông Lâm nhớ lại.
Khi ấy, ông Lâm là trinh sát đặc công, được huấn luyện và có khả năng bơi lội, am hiểu địa hình sông nước miền Nam. Những điều đó giúp ông trở thành một trong những người thường xuyên đi cùng Tư lệnh.
Theo lời kể của ông Lâm, từ cuối năm 1968 đến những năm sau đó, ông cùng Thiếu tướng Trần Hải Phụng di chuyển qua nhiều địa bàn như Phú An, Cẩm Sơn, Long Khánh, Long Trung, Càng Long, Vũng Liêm, Mỏ Cày (Bến Tre)... Các cuộc họp thường diễn ra bí mật, trong điều kiện địch liên tục càn quét.
“Ban ngày, cô Phương (bà Nguyễn Thị Phương, nguyên chiến sĩ Biệt động Sài Gòn, từng là Thư ký của Thiếu tướng Trần Hải Phụng) ra ngoài giao tiếp công khai với người dân, còn bên trong chỉ có bộ phận phục vụ ông ấy và tôi. Tôi đưa ông đi họp, rồi đưa ông về”, ông Lâm kể.
Những cuộc họp giữa vùng bị càn
Trong thời gian hoạt động, Thiếu tướng Trần Hải Phụng thường xuyên tổ chức hoặc tham gia các cuộc họp để nắm tình hình, chỉ đạo hoạt động của các lực lượng. Theo lời ông Phạm Duy Lâm, những cuộc họp có sự tham gia của nhiều cán bộ lãnh đạo, quân sự, chính trị như ông Võ Văn Kiệt, Mai Chí Thọ, Trần Bạch Đằng.
“Chú Hai Phụng họp để nắm tình hình nội đô Sài Gòn rồi chỉ đạo các lực lượng công vận, binh vận, thanh vận, định vận. Tôi chủ yếu đưa chú đi, bảo vệ chú và đưa chú về”, ông Lâm kể.
Địa điểm họp thường được bố trí ở nhiều nơi và thay đổi tùy tình hình. Để đưa Tư lệnh đến nơi an toàn, ông Lâm phải đi trước dò đường, quan sát địa hình. Khi cuộc họp kết thúc, người cận vệ tiếp tục tìm cách đưa ông rời khỏi khu vực trước khi địch phát hiện.
Năm 1969, trong một lần hoạt động tại khu vực Càng Long, Vũng Liêm, địa điểm họp bị lộ. Địch tổ chức bao vây, càn quét. Lực lượng bảo vệ phải vừa chống càn, vừa tìm cách đưa cán bộ ra khỏi vòng vây.
“Trận đó, quân ta thiệt hại lớn. Anh em tôi chủ yếu chống càn. Nhưng vất vả nhất là qua sông nước, bơi đưa cán bộ giữa các khu vực”, ông Lâm nhớ lại.
Theo ông, trong điều kiện khi đó, lực lượng bảo vệ khá mỏng. Bên ngoài có khi chỉ một tiểu đội, bên trong chỉ vài người phục vụ và bảo vệ Tư lệnh. Vì vậy, việc đưa cán bộ rời khỏi khu vực nguy hiểm đòi hỏi người cận vệ phải chủ động tìm đường và xử lý nhanh khi tình huống thay đổi.
Sông nước khi ấy vừa là tuyến di chuyển, vừa là trở ngại. Nhiều khu vực không có phương tiện, những cây cầu tạm bợ trở thành lối đi duy nhất.
Có lần, trước mặt ông Lâm và đồng đội là một cây cầu khỉ nhỏ, bề rộng chỉ vừa một bàn chân. Phía bên kia cách khoảng 2m. Biết bơi và có sức khỏe, ông Lâm quyết định đi trước, vượt qua rồi quay lại hỗ trợ Tư lệnh.
“Tôi biết bơi, lại khỏe nên phải đi trước. Qua được bên kia rồi mới quay lại đưa chú”, ông kể.
Đưa Tư lệnh qua sông khi chân ông bị thương
Một lần khác, ở khu vực Mỏ Cày, Bến Tre, ông Lâm nhớ mãi tình huống Tư lệnh gặp khó khăn khi di chuyển vì chân bị thương, sưng phù.
Đúng thời điểm đó, lực lượng địch tổ chức càn. Đường đi vốn đã khó khăn càng trở nên nguy hiểm.
Không có phương tiện như hiện nay, những người lính phải tận dụng vật liệu tại chỗ để đưa Tư lệnh đi. Chân ông Phụng được bọc nylon để tránh nước. Anh em làm một chiếc cáng tạm rồi đưa ông di chuyển.
“Lấy nylon quấn chân chú lại cho khỏi nước. Anh em lấy lá chuối, vật liệu có sẵn làm cáng rồi đưa chú đi”, ông Lâm kể.
Để qua sông, nhóm bảo vệ phải chờ lúc nước ròng. Khoảng 11h trưa, khi nước đứng, họ mới đưa được Tư lệnh qua. “Lúc đó, chỉ nghĩ làm sao đưa chú đến nơi an toàn”, ông Lâm nhớ lại.
Với người cận vệ, đó là những thời điểm không thể tính toán bằng những điều kiện thông thường. Đường đi, mực nước, thời điểm địch càn và khả năng di chuyển của Tư lệnh đều phải được cân nhắc trong từng bước.
Ông nhớ một trận tại khu vực Cầu Ông Tạo. Sau khi đưa thủ trưởng xuống hầm bí mật, ông Lâm cùng những người lính bảo vệ ở lại bên ngoài.
“Đưa thủ trưởng họp xong rồi ra, là cùng chống càn với anh em thôi. Tôi là lính thì nhiệm vụ của mình là bảo vệ, đưa thủ trưởng đi họp xong phải tìm cách bảo vệ an toàn cho thủ trưởng”, ông nói.
“Biết nhiệm vụ của mình nguy hiểm, có thể hy sinh hoặc đỡ đạn cho chú thì đó là chuyện hết sức bình thường. Chúng tôi được huấn luyện và giao nhiệm vụ bảo vệ thủ trưởng thì bằng mọi giá phải bảo vệ được chú Hai Phụng”, ông Lâm nói.
Lực lượng bảo vệ khi đó không đông. Vì vậy, mỗi người phải đảm nhiệm nhiều việc, từ dẫn đường, bảo vệ đến trực tiếp chiến đấu khi cần thiết.
“Ngày đó, phương tiện không có như bây giờ nên di chuyển rất khó khăn. Có những đoạn, tôi phải bơi liên tục, khảo sát khu vực xung quanh rồi mới quay lại đưa đồng chí Hai Phụng đi”, ông Lâm kể.
Người lính học từ vị Tư lệnh
Trong thời gian trực tiếp bảo vệ Thiếu tướng Trần Hải Phụng, ông Lâm không chỉ nhớ những trận càn hay những lần thoát chết. Điều ông nhắc nhiều là cách sống của người chỉ huy.
Theo lời ông Phạm Duy Lâm, Thiếu tướng Trần Hải Phụng là người rất thương lính, luôn quan tâm đến những người trực tiếp làm nhiệm vụ bên cạnh mình.
Dù trong hoàn cảnh chiến tranh khắc nghiệt, ông Phụng vẫn giữ lối sống giản dị, gần gũi và tiết kiệm.
Ông Lâm nhớ rằng, vị Tư lệnh luôn tìm cách để anh em được an toàn, nhất là trong những chuyến hành quân, di chuyển qua vùng sông nước hoặc khi địch tổ chức càn quét. “Chú quý lính lắm, sống rất bình dân. Tôi đi với chú nhiều nên học được ở chú nhiều điều”, ông Lâm kể.
Ảnh: Gia đình cung cấp
Hơn nửa thế kỷ trôi qua, ông Lâm vẫn nhớ khá rõ những chuyến đi cùng Tư lệnh. Những địa danh năm xưa có thể đã đổi thay, nhưng ký ức về cây cầu khỉ, những đoạn sông phải bơi, con nước phải chờ hay những lần địch bất ngờ càn quét vẫn được ông kể lại rành rọt.
Giờ đây, khi tuổi đã cao, những năm tháng chiến tranh với ông chỉ còn lại trong ký ức. Qua những câu chuyện giản dị, hình ảnh người lính cận vệ năm nào hiện lên với sự tận tụy, luôn theo sát người chỉ huy, sẵn sàng đối mặt hiểm nguy và đặt nhiệm vụ bảo vệ lên trên hết. Đó cũng là một phần ký ức về những năm tháng chiến đấu mà ông vẫn gìn giữ sau hơn nửa thế kỷ.