'Bí kíp' nón ngựa nghĩa quân Tây Sơn

TP - Nghệ nhân ưu tú Đỗ Văn Lan (80 tuổi, ông Ba Lan) đang giữ nguyên vẹn “bí kíp” tổ truyền làm “nón ngựa Phú Gia” mà ngày xưa nghĩa quân Tây Sơn đội nắng mưa hành quân thần tốc. Những chiếc nón không chỉ như một tác phẩm nghệ thuật mà còn rất bền.

Gian nan giữ nghề tổ

Làng nón ngựa Phú Gia ở thôn Phú Gia, xã Xuân An, tỉnh Gia Lai, cách Quy Nhơn chừng 40 cây số. Giữa trưa nắng cháy, nghệ nhân Ba Lan cặm cụi thêu các hoa văn cho chiếc nón của vị khách nước ngoài đặt hàng mấy tuần trước. Dường như cái tuổi 80 hoàn toàn trái ngược với sức dẻo dai của nghệ nhân Ba Lan. Ông ngồi cả ngày để làm nón mà không mệt.

anh-2.jpg
Nghệ nhân ưu tú Đỗ Văn Lan và chiếc nón ngựa của nghĩa quân Tây Sơn

Thấy khách chăm chú nhìn mình làm nón, nghệ nhân nói: “Một chiếc nón đúng chuẩn Phú Gia đặc biệt lắm. Nó giống như làm một căn biệt thự tuyệt đẹp. Có chiếc nón mấy người làm nhưng cả tháng mới xong. Để nón trường tồn theo thời gian, các nguyên liệu phải được lấy vào đúng thời điểm cuối đông, đầu xuân, không non, không già. Các chi tiết, mối khâu không chỉ tỉ mỉ mà còn phải đều như một”.

Ông chia sẻ, nghề nón ngựa có lịch sử hơn 300 năm. Tuy nhiên, nguồn gốc, ông tổ nghề này hiện vẫn là ẩn số. Ông chỉ nhớ bản thân là truyền nhân thứ 4 của dòng họ Đỗ. Thời kỳ nào, tổ tiên họ Đỗ đều là những nghệ nhân giỏi nghề. Trong đó, cụ Đỗ Đạt (tên gọi khác Thủ Tiện, đã mất) là bậc tinh hoa của làng.

“Để có một chiếc nón chất lượng, cách lựa nguyên liệu cũng cả một quá trình, lá kè mỡ phải không non không già mới cho màu trắng vàng, cây giang phải đúng tầm 2 năm tuổi vừa dẻo vừa bền để làm khung, còn rễ dứa phải chọn loại đã có độ tuổi 4 năm sẽ dẻo dai để uốn vành nón. Bây giờ người ta sử dụng các chỉ màu, cước, chứ ngày xưa các cụ lấy lá cây dứa, đập rập rồi lấy từng sợi ngâm hồ nước 7 ngày rất công phu”, nghệ nhân Ba Lan tiết lộ.

Năm 9 tuổi, Ba Lan đã có tài làm nón ngựa hơn người, được bố và ông nội nhận xét là “thần đồng” khi hội tụ đầy đủ tài năng, sự kiên trì để học hết tinh hoa của nghề.

Hơn 65 năm trong nghề, ông Ba Lan trải qua bao thăng trầm của nghề làm nón ngựa. Ông kể, thời chợ nón Gò Găng nổi tiếng nhất nơi đây. Khi ấy, Gò Găng là khu vực trung tâm, gò cao ráo, chợ diễn ra vào đêm khuya, người mua, kẻ bán dùng ngọn đèn dầu lập loè tới đây. Nhưng đổi mới đã đe dọa đến sự tồn vong của nón ngựa.

Nghệ nhân chật vật đành bỏ nghề, duy chỉ ông Ba Lan nhớ lời bố, ông nội dặn, cố gắng giữ nghề bằng được. Ông quyết tâm dạy các con, cháu mình học nghề làm nón. Vừa dạy ông cũng đi khắp nơi tìm đầu ra để cải thiện thu nhập.

anh-5.jpg
Bên trong chiến nón ngựa của nghĩa quân Tây Sơn được làm rất tinh xảo

Năm 2008, có Festival Tây Sơn - Bình Định, chiếc nón ngựa Phú Gia khiến du khách nước ngoài trầm trồ, thán phục. Đặc biệt, ở các chương trình lớn của tỉnh Bình Định cũ, nón ngựa được đưa ra trưng bày, giới thiệu đến du khách trong và ngoài nước. Nghề nón của ông Ba Lan hồi sinh, làm ra bao nhiêu bán hết từng đó.

Năm 2013, tỉnh Bình Định cũ tuyển chọn được 105 người dân thuộc hộ nghèo, cận nghèo, người có đam mê về làng Phú Gia học chằm nón ngựa của ông Ba Lan. Giờ đây, ông Ba Lan vẫn duy trì các lớp để truyền dạy nghề cho lớp trẻ, trong đó có cả những sinh viên ngành kiến trúc ở TPHCM tới học.

Tháng 6 vừa qua, nhà thiết kế Minh Hạnh đã đưa văn hoá truyền thống Việt Nam hiện diện tại Paris với tà áo dài lụa, thổ cẩm, nón lá Phú Gia và giá trị văn hoá, tri thức đã trường tồn của dân tộc.

Ông Ba Lan tiết lộ, lá kè mỡ (hay còn gọi là lá cọ), rễ cây dứa, cây giang (họ tre, nứa) là 3 vật liệu chính. Các vật trang trí là những họa tiết, chụp bằng bạc, vàng, đồng, mai rùa… Quy trình làm ra chiếc nón trải qua 10 công đoạn chính, trong đó 3 công đoạn khó nhất là đan sườn nón, lợp lá, thêu đính hoa văn. Tất cả nguyên liệu đều không bị mối, mọt, sau đó được làm công phu nên nón trải qua cả trăm năm không hỏng.

Nghĩa quân Tây Sơn dùng nón Phú Gia

Ngày xưa, những nghệ nhân ở đây làm ra chiếc nón này chủ yếu để phục vụ cho vua, quan lớn đội khi ngồi trên lưng ngựa, được làm công phu, bên trong thêu tứ linh Long - Lân - Qui - Phụng. Đặc biệt vào thời vua Quang Trung, nón ngựa Phú Gia đã gắn liền với đội quân thần tốc Tây Sơn.

Mỗi chiếc nón là một giá trị, ở nhà ông Ba Lan chiếc nón thấp nhất có giá tầm 700.000 đồng, nhưng cũng có những chiếc lên đến cả trăm triệu đồng. Đó là những chiếc nón cổ từ 100 đến hơn 300 năm với sự tinh xảo cùng phần chóp nón được đúc bằng kim loại quý, được thêu tứ linh. “Nón giá cao vì phải trải qua ít nhất mười công đoạn tỉ mỉ, hoa văn vô cùng phức tạp. Có những chiếc tôi làm liên tục gần 2 tháng trời mới hoàn thiện”, nghệ nhân chia sẻ.

anh-6.jpg
Những chiếc nón ngựa có chụp bằng kim loại quý đã cả trăm năm, vô cùng quý giá

Lấy chiếc nón được cất trong tủ kính ra, ông Ba Lan giới thiệu: Đây là chiếc nón ngựa từ năm 1788 nghĩa quân Tây Sơn dùng đội mưa nắng, hành quân thần tốc. Thời điểm đó làng nón Phú Gia nhận làm hàng nghìn nón ngựa cho nghĩa quân Tây Sơn. Chiếc nón dành cho quân lính có phần chóp nón bằng chì pha một số kim loại khác, không được thêu tứ linh. Có chiếc nón được trả giá hơn 100 triệu đồng nhưng ông Ba Lan không bán.

Hiện nay, ông Ba Lan đang cất giữ ít nhất 7 chiếc nón ngựa cổ, có chiếc trị giá gần 200 triệu đồng. Mỗi chiếc nón có giá trị khác nhau cũng dựa vào các chụp (chụp trên chóp nón) bằng vàng, bạc, đồng đỏ, chì…Có nhiều chiếc đã trải qua hơn trăm năm vẫn còn nguyên vẹn, chỉ phai màu xám của thời gian.

Hay như chiếc nón của cụ Đỗ Đạt làm để đội đến nay đã hơn 126 năm. Nón có phần chóp bằng “dam đồi mồi” (rùa biển - PV), phần lá, sợi khung sườn được tạo tác đều như một. Nhiều người tới hỏi mua nón với giá từ 100 đến 200 triệu đồng nhưng ông Ba Lan nhất quyết giữ lại.

Chia sẻ với phóng viên Tiền Phong, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai Nguyễn Thị Thanh Lịch cho biết, tỉnh xác định bảo tồn và phát huy giá trị làng nghề truyền thống Phú Gia không chỉ là gìn giữ di sản văn hóa, mà còn tạo sinh kế bền vững cho người dân và hình thành những sản phẩm du lịch đặc sắc, có bản sắc riêng.

Theo bà Lịch, làng nghề phải được bảo tồn trong không gian văn hóa nguyên gốc, gắn với cộng đồng, đồng thời được đổi mới về mẫu mã, công nghệ, phương thức quản trị và kết nối thị trường để trở thành điểm đến hấp dẫn trong chuỗi du lịch trải nghiệm, du lịch văn hóa của tỉnh.

“Bảo tồn để phát triển, phát triển để bảo tồn. Tỉnh lấy người dân và cộng đồng là chủ thể của làng nghề, lấy giá trị văn hóa làm nền tảng, du lịch làm động lực, thị trường làm định hướng và chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo làm giải pháp để đưa làng nghề trở thành sản phẩm văn hóa - du lịch có sức cạnh tranh, góp phần phát triển kinh tế địa phương”, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai cho hay.